
Minh họa
1. Tiệc cưới rình rang. Lần đầu bọn trẻ quê chúng tôi được biết thế nào là chocolate, nho khô, xúc xích hảo hạng. Người lớn trong nhà ai cũng có một bộ đồ bảnh tỏn nhưng hơi dư size.
Còn hàng xóm thì được sống trong không khí kèn trống tưng bừng như có hội lớn; mỗi cụ ông cụ bà đi ăn đám cưới về không chỉ gói đùm theo mấy bọc xôi mà còn được tặng một chai dầu xanh thần thánh. (Nhắc mới nhớ, có lẽ chú tôi là một trong những Việt kiều tiên phong trong sáng kiến đưa dầu xanh về quê làm quà tặng thơm thảo thể hiện sự quan tâm sức khỏe với bà con, láng giềng).
Trong đám cưới, chú rể đứng tuổi và phong độ, còn cô dâu mười tám đẹp như trăng rằm. Ai nấy hạnh phúc rạng rỡ trước ống kính đài truyền hình. Không nhầm đâu, chính xác là ống kính đài truyền hình. Chú tôi thuê một nhà quay phim chuyên nghiệp của đài truyền hình về để lưu giữ hình ảnh ngày vui đời mình.
Đến nay thỉnh thoảng tôi vẫn xem lại những thước phim đó để tìm lại bóng dáng những người thân yêu. Ông nội tôi, lúc ấy đã lẫn, nâng ly mà mắt nhìn hôn trường ngơ ngác lừng khừng như người mới đi lạc đến thiên đường.
Trong khi bà nội tôi, trong bộ áo dài nhung vía đã từng mặc trong lễ cưới ba mẹ tôi mười mấy năm về trước, thì vừa móm mém cười đó lại đưa tay quệt nước mắt đó. Tôi hiểu, người đàn bà kham khổ ấy đã khó làm chủ được cảm xúc trước niềm vui quá lớn lao mà đứa con xa xứ mang về.
Ba tôi thì quá chén, ngà ngật bước lên sân khấu giành micro hát tặng đôi tân lang tân nương một bài chẳng "ăn nhậu" gì với khung cảnh - bài hát có câu: nếu, nếu ngày ấy mình đừng quên nhau thì ngày nay có đâu buồn đau.
Sau vụ này, mẹ tôi đã "giũa" ba tôi một trận vì sự can đảm bất thường nhưng không đúng lúc (ừ thì ba tôi chỉ biết tự bào chữa rằng "chẳng phải trước khi hát tui cũng đã đọc câu Ta về ta tắm ao ta rồi, bắt bẻ gì nữa!").
Còn bọn con nít ốm đói chúng tôi thì lăn lóc hết mâm này qua mâm khác, ê hề ngập mặt những món ngon, bụng đứa nào cũng lặc lè như trống. Mới đó mà đã qua vài chục năm. Con cái của chú thím bây giờ cũng đã ra trường đi làm, còn chú thím thì vào tuổi hưu.
Mỗi lần trở về thăm quê hương, cả nhà chú thím thường có vài ngày tìm lại những nơi ghi dấu kỷ niệm, những chốn ngỡ là thoáng qua nhưng lại hội tụ mối nhân duyên gắn bó họ với nhau suốt cuộc đời.
Họ thăm lại Đà Lạt, Đức Trọng, rồi xuôi về Phan Rang, Cam Ranh, Nha Trang... Họ kể với con cái nơi này ba cùng thanh niên trai tráng vác thuyền ra khơi trong đêm, nơi kia ba mẹ đã gặp nhau, thành phố thơ mộng nọ là nơi ba mẹ hưởng tuần trăng mật...
Và họ cũng nhắc với bọn trẻ rằng, cũng trên cung đường này, những người thân yêu dòng tộc đã nằm lại rải rác bên những cánh rừng, những nghĩa trang xơ xác, nhưng tin rằng lúc nào những người đã khuất cũng dõi theo bước chân viễn xứ của cháu con.
Những cuộc về của họ là những chuyến trở về quá khứ, lần dò và sống với kỷ niệm đã qua, củng cố trong tâm khảm con cái một chốn gọi là quê nhà.
Đi tới đâu, ghé thăm bà con thân thuộc, bọn trẻ không rành tiếng Việt nhưng cũng được dạy khoanh tay ngoan ngoãn ngồi nghe những bậc trưởng thượng còn lại trong dòng họ nghiêm trang giải thích chuyện này chuyện kia theo lề lối gia đạo.
Chúng gật gật, cười cười ngơ ngác, chẳng biết có hiểu mô tê chi, nhưng bao giờ cũng được nêu gương nề nếp "thấy lễ giáo chưa, không như cái bọn con cháu quỷ sứ ở nhà nhưng học đòi nổi loạn trổ trời mà lên...".
2. Bây giờ thì anh đứng đó.
Trước mặt tôi, nhưng quay lưng về phía tôi. Vẫn với chiếc ba lô bạc màu đeo xệch bên vai, vóc người thấp và gầy, mái tóc đã bạc trắng.
Mắt anh dõi nhìn sang phía trạm tàu đông khách lên xuống trước nhà ga trung tâm Frankfurt Main Hauptbahnhof và chốc chốc lại rít một hơi thuốc, phà khói trắng vào bầu không khí lạnh lẽo. Vẫn kiểu hút thuốc tài tử phong trần như những lần trước đây. Một kẻ thà chết nhưng không buông được làn khói thuốc.
Tôi trở về kỷ niệm của 5 năm trước. Chúng tôi cũng từng có những buổi chiều đạp xe dọc bờ sông vắng lặng, ghé những đồi nho và nhà nguyện cổ hoang phế nhặt những hạt óc chó và hái dâu dại bên cánh rừng vùng ReinMain.
Khi đó, anh kể cho tôi nghe chuyện sấp ngửa của đời tha hương trên xứ người, những may mắn xen lẫn với đắng cay và thất bại suốt một quãng đời dài. Lúc nào kết thúc một câu chuyện, anh cũng chia sẻ ý định trở về Sài Gòn.
"Xa nước hơn 50 năm, nhưng mình vẫn giữ quốc tịch Việt Nam. Bởi mình nghĩ thế nào rồi cũng phải về thôi" - anh nói, và rít một hơi thuốc thật sâu.
"Nhưng khi nào?", tôi hỏi.
Anh lặng thinh. Sự lặng thinh kéo dài khiến tôi có thể lắng nghe được âm vang thảng thốt của những chiếc lá tiêu huyền tiếp đất giữa chiều thu se sắt. Có lẽ cuộc đi về sẽ giản đơn với người này nhưng lại trì hoãn và nhiều uẩn khúc với người kia. Không ai thấu được hết những nỗi đời riêng hay số phận nổi trôi của kẻ khác để tìm ra câu trả lời xác quyết cho một địa đồ mạch lạc của lộ trình quy cố hương.
Sau đó, tôi gặp anh trong những lần về lang thang giữa Sài Gòn khói bụi. Anh sung sướng cưỡi trên chiếc xe máy cũ kỹ mượn của người quen và len lỏi khắp thành phố. Ánh mắt anh luôn rộn ràng niềm vui khi được hòa vào dòng người trên phố, được "sống như người Sài Gòn thứ thiệt".
Thần thái anh rạng rỡ như con cá tung tăng tìm được dòng suối mát lành để bơi lội, nương náu, dù tôi biết, trong tim anh chằng chịt những vết khâu, những ống stent để duy trì nhịp đập, ngày sống tính bằng các quãng ngắn thời gian.
Một lần tôi đưa anh về Cần Giờ, đúng hôm sóng lớn và nước xanh trong lạ thường. Anh cởi phăng đồ vắt lên cành dương liễu, lao ầm xuống biển và thỏa thuê bơi lặn. Một lần khác, tôi rủ anh đi nghe nhạc trong một phòng trà khuya trên một chung cư cũ kỹ đường Thái Văn Lung.
Đêm nhạc rất bình thường đối với tôi (tụ điểm cà phê nghe nhạc kiểu này ở Sài Gòn thiếu gì!), nhưng với anh, đó là thiên đường ký ức mà hơn nửa thế kỷ sống trên xứ người, anh thèm khát được đắm mình.
Và một lần kia, tôi thấy anh đứng hàng giờ trước đôi nấm cỏ trên đồi thông hồ Than Thở với niềm thành kính vô bờ. Rồi thật quyết liệt, anh đã dốc tiền túi tu sửa lại hai ngôi mộ chỉ vì trái tim lãng mạn của anh đong đầy trắc ẩn trước một câu chuyện tình trắc trở không may...
Mấy năm trước, sau chuyến về Việt Nam dài ngày, anh đã trót lọt mang sang Đức một hạt nhãn nhỏ xíu. Anh trồng nó trong một chiếc chậu xinh xắn, và mầm nhãn rồi cây nhãn dần vươn lên. Mùa đông, anh mang cây nhãn vào đặt trên bệ cửa tránh tuyết, rồi tỉ mỉ đếm lá.
Rất nhiều năm rồi, bên bệ cửa, cây nhãn vẫn chỉ có tám chiếc lá. Tám chiếc lá, nhưng với người tha hương nhạy cảm như anh, đó là cả một khu vườn tươi mát trong tâm tưởng, để ngắm nhìn và hoài niệm quê nhà. Cây nhãn, sau nhiều năm mang trên mình tám chiếc lá, đã héo khô và chết mòn bên bệ cửa sổ.
Bây giờ thì anh đứng đó, khói thuốc bạc như màu tóc. Anh nói những câu đứt quãng vì hơi thở không còn đi qua buồng phổi, dòng máu không còn bơm qua con tim theo cách trôi chảy tự nhiên nữa. Anh kể về cuộc phẫu thuật vừa trải qua trong bệnh viện trung tâm Frankfurt, nơi quy trình y tế giải quyết thật dứt khoát nhưng cũng lạnh lùng.
Anh nói về những ngày dài nằm trong căn phòng đóng kín của căn hộ nhỏ và ý nghĩ đến chuyến trở về Sài Gòn dần dần trở nên viển vông. "Sức khỏe của mình không còn ở mức đảm bảo cho một chuyến bay mười một giờ đồng hồ" - anh nói, sau cơn ho sặc sụa.
"Nguyên này, bọn mình gặp nhau vầy... Biết đâu, đây là lần cuối cùng" - anh nói thêm, giọng trĩu nặng, ngậm ngùi.
Chúng tôi lặng lẽ nhìn dòng người xuôi ngược trên con phố trung tâm Frankfurt lúc về chiều rồi băng qua con lộ để anh trở về căn hộ bên sông Main trước khi trời sập tối. Tỏ ra lạc quan, luôn phải nói những điều tươi sáng, rằng nên dưỡng bệnh để còn về đi tắm biển, nghe nhạc, cà phê vỉa hè Sài Gòn... nhưng thú thật trong thâm tâm tôi, có một bóng mây xám của nỗi âu lo và buồn bã đã hoàn toàn vây phủ.
Đáp lại những lời an ủi nâng dậy tinh thần nghe ra sáo rỗng đó là đôi mắt trũng với ánh nhìn hiu hắt của anh. Đôi mắt câm lặng, và hơi thở đứt quãng khi nói lời tạm biệt.
Chuyến tàu điện rời ra, trong mỗi chúng tôi mang theo ý niệm về một nẻo về xa thẳm.
3. Không phải đến nhà hàng Việt Nam với giá một tô phở có khi lên đến 50 EURO (quy ra trên 1.500.000 VND) và bánh mì kẹp thịt chả với giá đến 10 EURO (trên 300.000 VND), mỗi khi đến Đức dài ngày, tôi tha hồ được ăn món Việt từ bếp của những gia đình bạn bè tình thương mến thương.
Trong gian bếp của những bạn bè vong niên tha hương, muốn nước mắm có nước mắm, muốn mắm tôm có mắm tôm, muốn mắm ruốc xì dầu có mắm ruốc xì dầu. Ôi thôi đủ cả các nguyên liệu gia vị làm nên những món quốc hồn quốc túy, đặc sản ba miền.
Bởi vậy, cùng với sự nâng niu hương vị quê nhà trong ký ức, những món ngon từ gian bếp người tha hương có khi còn "gia truyền" hơn cả bên nhà, "nguyên bản" hơn cả ở nơi nó được "cấp giấy khai sinh".
Vì thế, món bánh mì kẹp thịt mà bà chị vốn là tiểu thư trên đường Gia Long (nay là Lý Tự Trọng) gói trong giấy báo, gửi người đi tàu điện mang đến trạm Frankfurt Messe cho tôi trong mỗi dịp đi hội sách sao mà thơm, giòn và đầy đủ mùi vị, ngon không thua chi từ tủ bánh mì sáng giá nhất ở khu chợ Bến Thành; món gà ướp sả nướng và chả ram mà hai vợ chồng ông Nguyễn Tường Bách tự tay làm đãi bạn bè trong buổi trưa hiu hiu gió ở vùng triền đồi Bad Camberg khiến tôi nghĩ đến cuộc hạnh ngộ này đang diễn ra nơi đồi thông Thiên An hay một vùng đồi núi nào đó của cao nguyên Đà Lạt; món thịt kho hột vịt ở gian bếp ấm cúng và thân tình của vợ chồng ông Phan Kim Hổ ở Aachen lại khiến tôi nhớ tới bữa cơm ngày Tết trên quê nhà, dù rằng bấy giờ đang giữa mùa thu...
Trong mỗi gian bếp ấm cúng bạn bè vong niên, tôi được nguôi ngoai cơn thèm điên đảo những món ăn quê nhà trong những chuyến đi xa ngắn hạn (tôi vẫn gọi đây là cơn thèm bắt chước của những kẻ giang hồ vặt). Tôi nghe họ, những người xa nước hơn nửa thế kỷ, kể rằng chai nước mắm, hũ cà muối vào những năm tám mươi, chín mươi của thế kỷ trước xa xỉ vô cùng bởi chúng còn nằm trong "rào giậu" đóng kín của nền kinh tế.
Ngày đó, cũng từng có khi anh em bè bạn hẹn đến nhà nhau ăn tiệc, sang lắm thì trong túi áo măng-tô mới có bọc thêm chai... nước mắm để chi chút mà chia nhau. Nhưng bây giờ thì dễ hơn nhiều rồi, những siêu thị châu Á, đặc sản các vùng miền Việt Nam từ cà pháo mắm tôi đến khô cá sặc miền Tây, từ cá bống Sông Trà đến nem chua Bình Định chẳng thiếu món gì. Ký ức về cái ăn thỏa mãn cũng khỏa lấp được phần nào tâm thế vọng cố hương.
Từ các gian bếp gia đình, câu chuyện về cuộc trở về với những chuyển giao, gửi gắm thế hệ đã được bộc bạch một cách tự nhiên. Và tôi nhận ra, khi nói về con cái, ngoài chuyện tự hào về những dấu mốc thành công mà bọn trẻ đạt được trên nơi này nơi kia trong thế giới toàn cầu hóa, thì những bạn vong niên của tôi đều không giấu được niềm tự hào về chuyện con mình biết nói, biết viết tiếng Việt rành rỏi, biết nấu và ăn món Việt đúng điệu chẳng kém ba mẹ chúng.
Có người tâm sự rằng để có được điều đó là nhờ ngay từ những năm bao cấp họ đã đều đặn cho bọn trẻ về nước. Chúng cùng ăn, cùng nói, cùng lớn lên theo nề nếp bên nhà. Chúng chứng kiến sự thay đổi của xã hội Việt Nam, để rồi đồng điệu với cha mẹ trong tâm thức hướng về quê cha đất tổ.
"Cả nhà cùng mê Việt Nam" - đó là những gì thật giản dị và lớn lao mà một tiến sĩ ngành sợi dệt ở thành phố biên giới Aachen nói với tôi về nếp nhà của anh.
Câu chuyện bên gian bếp bao giờ cũng mở ra những cuộc hẹn hò trở về. Người thì về sum họp gia đình bạn bè ngày Tết, người thì về chọn nơi chốn để định cư an hưởng tuổi già, người thì tính đường cho con cái trở về tiếp sức hành trình của mình đóng góp cho quê hương.
Và "một công đôi việc", trên mỗi chuyến về Việt Nam là kế hoạch, dự án xây cầu, chung tay tiếp sức cho học sinh nghèo đến trường, mở dự án dịch sách, giới thiệu tri thức... để mỗi cuộc đi về khi còn có thể là một cuộc đối thoại, đền đáp ân tình với quê hương.
Phụng sự quê hương từng là điều mà những người thuộc lớp chú tôi, hay các bạn bè vong niên của tôi, đã tâm niệm từ khi bước chân rời xa quê nhà. Và mỗi người một hoàn cảnh, một điều kiện nhưng họ luôn âm thầm nuôi dưỡng tâm niệm ấy, biến thành hành trình, mục đích hệ trọng của cuộc sống.
Để bây giờ, giữa nước Đức, từ gian bếp ấm cúng đến ga tàu se sắt gió, những người bạn vong niên đã cho tôi nhận ra tính thiêng liêng nơi những cuộc về.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận