
Hai giáo sĩ "cha đẻ" của chữ quốc ngữ tiếng Việt: Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes - Ảnh tư liệu
Thật cảm động xiết bao khi được duyên may tri ân với một người ơn của dân tộc Việt tại vùng Trung Đông nắng gió - nơi người chọn sống những năm cuối đời rồi an nghỉ vĩnh hằng sau quãng đời dài miệt mài tại Việt Nam.
Đó là một giấc mơ thành sự thật kể từ khi tôi còn là một cậu học trò cộng tác cho báo Tuổi Trẻ và đến gửi tin bài tại tòa soạn trước đây ở địa chỉ 161 đường Lý Chính Thắng (thành phố Hồ Chí Minh) - nơi có một bức tượng chân dung Alexandre de Rhodes bằng đồng đen đặt trang trọng giữa khuôn viên sân trước.
Từ thuở thiếu thời ấy, một người sớm yêu chữ nghĩa và trưởng thành nhờ nghiệp cầm bút như tôi đã có lòng tôn kính và biết ơn "giáo sĩ Đắc Lộ" Alexandre de Rhodes vì vai trò quan trọng của ông trong quá trình hình thành chữ quốc ngữ tại Việt Nam ở thế kỷ 17 bên cạnh những tên tuổi khác như giáo sĩ Francisco de Pina, Gaspar d'Amaral (Bồ Đào Nha)…
Tìm mộ giáo sĩ Đắc Lộ ở Ba Tư
Uống nước nhớ nguồn, mục đích chuyến đi Iran của tôi chính là đi tìm nơi an nghỉ của Alexandre de Rhodes để được một lần đặt hoa lên mộ của người. Sau vài chặng bay (Việt Nam - Iran hiện chưa có đường bay thẳng), tôi đặt chân đến thủ đô Tehran rồi từ đó thuê xe đi xuôi về phía nam đến cố đô Isfahan (tức Esfahan) - đô thị cổ kính cách Tehran 350km, dân số 2,5 triệu người.
Bác tài địa phương tên Dariush dù đã chở vô số du khách đến tham quan Isfahan vô số lần, song cực kỳ ngạc nhiên khi nghe tôi nói mình đến vùng đất xinh đẹp với nhiều dấu ấn lịch sử văn hóa rực rỡ như Isfahan với mục đích… đi tìm một nghĩa trang!
"Đây là lần đầu tiên tôi nghe đến tên vị giáo sĩ Công giáo phương Tây Alexandre de Rhodes tại đất nước Hồi giáo như Iran. Hành trình của bạn sẽ thú vị lắm đây và tôi rất hân hạnh được cùng đi" - ông Dariush sau ngạc nhiên là sự hào hứng.
Khổ nỗi, bất cứ điểm du lịch nổi tiếng nào ở Isfahan ông Dariush đều nắm trong lòng bàn tay và có thể chở khách đến trong một nốt nhạc, song ông lại lắc đầu không biết phải kiếm tìm từ đâu nghĩa trang có ngôi mộ một người tên Alexandre de Rhodes đã qua đời từ hơn 360 năm trước!
Thông tin từ những người Việt đi trước giúp tôi xác định: trước tiên phải đến quận New Julfa tìm nhà thờ cổ Holy Savior của người Armenia (còn gọi là Vank - có nghĩa là "tu viện" trong tiếng Armenia).
Alexandre de Rhodes được Vatican phái bộ đến Ba Tư năm 1654, đã sống ở đây được sáu năm rồi tạ thế ngày 5-11-1660. Ông được chôn cất ở khu nghĩa trang dành cho người Công giáo Armenia ở ngoại ô thành phố.
Chúng tôi hỏi thông tin từ anh quản lý khách sạn ở Isfahan, anh nhiệt tình gọi điện cho một người bạn gốc Armenia và hồi báo rằng cần đến nhà thờ Vank để xin giấy phép vào nghĩa trang. Dariush chở tôi đến nhà thờ Vank trong buổi sớm. Đây là nhà thờ Thiên Chúa giáo lớn nhất và đầu tiên được xây dựng tại một đất nước Hồi giáo như Ba Tư - một trường hợp hết sức đặc biệt trong lịch sử các tôn giáo.
Sau một hồi tham quan nhà thờ có kiến trúc và vòm mỹ thuật rất đẹp này, chúng tôi vào văn phòng đề nghị và rất vui mừng khi được cô quản lý nhiệt tình tặng giấy phép có đầy đủ chữ ký và đóng mộc để thăm nghĩa trang của người Armenia.

Tác giả bên mộ Alexandre de Rhodes
Lời tri ân với thiên thu
Từ nhà thờ Vank sau khoảng 15 phút đi xe, chúng tôi đã đến nghĩa trang do người Armenia xây dựng từ hơn 500 năm qua, rộng hơn 30ha, là nơi yên nghỉ của rất nhiều dân di cư từ Âu châu, Do Thái tị nạn, và người hành hương từ Armenia…
Người bảo vệ già tên là Robert Vonikyan mở cổng sắt sơn xanh cho khách vào với nụ cười hiền hòa. Đã đọc các tài liệu từ trước, tôi tự tin hướng dẫn Dariush đi xe theo con đường chính với hai hàng thông xanh rợp mát, cao đều tăm tắp, qua ba ngã rẽ để tới khu đất có biển vàng đề số 7-10 dành cho người Công giáo (Catholic), chính là nơi có phần mộ Alexandre de Rhodes.
Rất nhiều ngôi mộ đá, phiến đá to nhỏ, nhô trên mặt đất, nằm xê lệch bên các hàng thông nhỏ trồng dọc đường vào các khu vực trong nghĩa trang rộng mênh mông và rất tĩnh lặng. Nhiều mộ cổ xưa chỉ là tảng đá san sát nhau, vùi trong đất, bên những bụi hoa cúc dại. Tôi và bác tài Dariush đi loanh quanh nhiều vòng vẫn không tìm thấy phần mộ cần đến.
Bất giác tôi dừng lại, trên tay ôm bó hoa hướng dương màu vàng rực sáng dưới ánh nắng mặt trời, thành khẩn khấn nguyện: "Con là kẻ hậu sinh từ quê nhà Việt Nam đến nơi đây chỉ với một ước mong được viếng nơi yên nghỉ của người…". Chẳng ngờ ngay sau lời thành kính đó, chỉ bước đi đôi ba mét nữa, tôi đã thấy ngôi mộ Alexandre de Rhodes ngay trước mặt, như là người hiển linh. Trong tôi vỡ òa một niềm xúc động khôn tả.
Niềm xúc cảm dâng trào khi tôi quỳ bên tảng đá xám hình chữ nhật nằm giản dị, khiêm nhường bên bao ngôi mộ khác. Trên phiến đá có dòng ký tự Latin được khắc chìm còn rõ nét sắc sảo qua bao thời gian: "Nơi đây yên nghỉ linh mục Alexandre de Rhodes. Đã tạ thế tại Isfahan ngày 5 tháng 11 năm 1660".
Phía trước đầu mộ còn có tấm bia đá xuất xứ từ Quảng Nam, khắc chân dung Đắc Lộ và một trang của Từ điển Việt-Bồ-La, cùng dòng song ngữ Việt - Anh sơn vàng: "Chữ quốc ngữ còn, Tiếng Việt còn, Nước Việt Nam còn!" do Viện bảo tồn tiếng Việt lập năm 2018.

Một thời gian rất dài, Tuổi Trẻ đã được làm báo ở nơi có tượng của Alexandre de Rhodes - người để lại di sản chữ Việt cho người Việt (161 Lý Chính Thắng, phường Xuân Hòa, TP.HCM) Ảnh: Nguyễn Công Thành
Dọc theo thành mộ là một phiến đá khác khắc dòng chữ với 4 thứ tiếng Việt, Pháp, Anh và Ba Tư: "Tri ân Cha Alexandre de Rhodes đã đóng góp to lớn trong việc tạo tác chữ quốc ngữ - chữ Việt viết theo ký tự Latin".
Bia tri ân này do một phái đoàn Việt Nam dẫn đầu bởi giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, nhà văn Hoàng Minh Tường, nhiếp ảnh gia Nguyễn Đình Toán, tiến sĩ sử học Nguyễn Thị Hậu… khánh thành đúng ngày giỗ lần thứ 358 của Đắc Lộ (ngày 5-11-2018).
Tôi đặt hoa, hai cuốn sách tiếng Việt lên mộ người, thì thầm lời tri ân bậc tiền nhân có công rất lớn với chữ Việt. Thâm tâm tôi còn ngưỡng mộ Alexandre de Rhodes với hành trình bôn ba kỳ diệu, kỹ năng quan sát và ghi chép dữ liệu tài tình với tinh thần tôn trọng, thấu hiểu sâu sắc, không phán xét phong tục văn hóa địa phương trong cả cuộc đời truyền giáo của ông từ Âu sang Á, trở về Âu rồi lại đến Iran.
Việc cuối đời Đắc Lộ lại đến một quốc gia Hồi giáo càng minh chứng cho tinh thần văn minh không phân biệt đối xử giữa các tôn giáo khác biệt nhau của toàn nhân loại.
Bác tài Dariush rất cảm kích khi tận mắt thấy tôi "nhập gia tùy tục" tưới nước lên phiến đá mộ phần Alexandre de Rhodes và dùng bàn tay để lau rửa như một cách tri ân tôn kính người đã khuất theo phong tục viếng mộ truyền thống ở Iran. "Cậu cho tôi làm cùng nhé" - ông Dariush đồng cảm sâu sắc và lấy nước rửa mộ vị giáo sĩ có cơ duyên với người Việt lẫn Iran.
Ông Trần Văn Trường (hướng dẫn viên du lịch kỳ cựu của Hay Tour) cho biết vào năm 2017, đúng ngày đầu năm mới của tết cổ truyền Nowruz của người Ba Tư (tháng 3), ông cùng một số du khách Việt "đã may mắn tìm viếng, đặt hoa tri ân mộ Alexandre de Rhodes trong niềm xúc cảm thân thương và vui mừng khôn xiết".
Năm 2019, diễn viên Hồng Ánh sau khi đến viếng mộ Alexandre de Rhodes ở Isfahan đã bày tỏ ước mong "nơi đây trở thành một điểm hành hương trong lịch trình tham quan của các công ty lữ hành, các cá nhân người Việt sang xứ sở Ba Tư du lịch".
Với tôi, khoảnh khắc ngồi yên lặng bên ngôi mộ đơn sơ của Alexandre de Rhodes, lần giở trang sách tiếng Việt giữa không gian nghĩa trang thanh vắng, những ngọn thông rung rinh sẽ luôn khắc ghi trên hành trình khám phá thế giới.
Cả một đời giáo sĩ Đắc Lộ không chỉ cống hiến vì đạo mà trọn vẹn cho ngôn ngữ, học thuật, văn hóa, sử liệu thực địa, thúc đẩy đối thoại nhân bản, góp phần làm cầu nối giao lưu giữa các nền văn minh Đông - Tây lẫn tiến trình hình thành bản sắc tri thức hiện đại của nhiều địa phương trong đó có Việt Nam.
Hẳn sau gần bốn thế kỷ, Alexandre de Rhodes sẽ ấm lòng khi biết rằng chữ Việt mà ông từng sáng tạo vẫn tồn tại, phát triển trên bao thế hệ người Việt, những người con nước Việt vẫn vượt ngàn trùng xa để đến thăm và tưởng nhớ ông.

Alexandre de Rhodes sinh ngày 15-3-1593 tại Avignon (miền nam nước Pháp), qua đời ngày 5-11-1660 tại Isfahan (Iran), là nhà ngôn ngữ học, nhà truyền giáo Dòng Tên. Ông thường được người Việt gọi là "Cha Đắc Lộ" với nhiều lần đến An Nam truyền giáo ở Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài trong khoảng thời gian 20 năm (1624 đến 1645).
Ông là người hệ thống hóa và biên soạn và phụ trách in ấn công trình Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (Từ điển Việt Nam - Bồ Đào Nha - La Tinh, gọi tắt là từ điển Việt - Bồ - La) đầu tiên in tại Roma (Ý) năm 1651 với gần 8.000 từ vựng, giúp người Việt lần đầu tiên có một hệ thống ký tự chữ viết theo mẫu tự Latin đơn giản, hiệu quả, ưu điểm dễ học và dễ sử dụng, thể hiện sự sáng tạo và linh hoạt của người Việt, thúc đẩy tiến trình phát triển văn hóa, giáo dục, báo chí… trong giai đoạn lịch sử chuyển tiếp đầy biến động.
Là một sứ giả văn hóa, Alexandre de Rhodes còn là tác giả của cuốn Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài (La histoire du royaume de Tunquin - 1652) tại châu Âu; hồi ký Hành trình và Truyền giáo (Divers voyages et missions) thuật lại trải nghiệm, giới thiệu chi tiết các văn hóa, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, luật lệ, bối cảnh xã hội và đời sống của người Việt đương thời cho độc giả phương Tây ở thế kỷ 17.

Trong nhà thờ cổ Mằng Lăng ở Phú Yên (trước đây, nay thuộc tỉnh Đắk Lắk) lưu trữ cuốn sách Phép giảng tám ngày (tựa Latin: Catechismus) của Alexandre de Rhodes được in tại Roma năm 1651.
Đây được xem là cuốn sách chữ quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam, được in song ngữ bằng tiếng Latin (bên trái trang) và chữ quốc ngữ sơ khai (bên phải trang). Phép giảng tám ngày là tác phẩm văn ngữ ghi lại cách phát âm của tiếng Việt ở thế kỷ 17.
Từ điển tiếng Việt đầu tiên của người Việt
"…Mùa Noel năm 1651, La Mã lạnh hơn mọi năm. Từ đầu tháng 12, những cơn gió lạnh từ dãy Alpes đã ràn rạt thổi xuống thành La Mã. Tuyết rải trắng xóa ngọn cây, mái nhà.
Alexandre de Rhodes chưa kịp chuẩn bị gì cho lễ Noel. Suốt ngày ông ở xưởng in cùng thợ, tối về nhà soát lại những bản bông rồi ngủ vùi trên các trang in cuối cùng. Đơn độc, đau đớn, vật vã, hy vọng… còn hơn cả đàn bà vượt cạn một mình giữa mênh mông tuyết trắng buốt lạnh. Đắc Lộ thoát huyết khắp thất khiếu, rỉ máu cả mười đầu ngón tay, đau rát ruột gan và bụng luôn sôi réo cồn cào để sinh thành ra từng trang chữ.
Bản in thử đầu tiên của Dictionarium Annamiticum Lusitanum, et Latinum - Từ điển Việt - Bồ - La đã hoàn thành.
Không thể tả hết niềm vui sướng vô bờ khi cầm trên tay đứa con tinh thần của nước An Nam vừa chào đời. Hơn chín nghìn mục của cuốn từ điển chỉ có 250 lỗi morat cần đưa vào mục đính chính. Một thành quả không ngờ.
Ôi, giá được cưỡi sóng đại dương để về An Nam báo Tin Mừng cho muôn dân nước Việt. Nước mắt A Lịch Sơn Đắc Lộ rơi trên từng trang sách.
Trên từng trang sách hiện lên sông núi, biển cả, miền quê xứ Đàng Trong, Đàng Ngoài, hiện lên những gương mặt xiết bao thân yêu gần gũi: Francisco de Pina, Fracesco Buzomi, Gaspar d'Amaral, Antonio Barbosa, Biện lý Trần Đức Hoà, Sài vương Nguyễn Phúc Nguyên, Lộc Khê hầu Đào Duy Từ, Minh Đức vương Thái phi, Tướng quận công Nguyễn Phúc Khê, Hoàng hậu Ngọc Vạn, Thái bảo Nguyễn Danh Thế, Thanh đô vương Trịnh Tráng, vua Lê Thần Tông, Bento Thiện, Raphael Rhodes Út Tí, Andre Phú Yên…"
Hoàng Minh Tường (trích tiểu thuyết lịch sử Chữ và Người 400 năm - NXB Phụ Nữ Việt Nam - 2025)
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận