
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân với các đại biểu dự lễ kỷ niệm 1 năm Đối tác chiến lược toàn diện Việt - Mỹ vào tháng 9-2024 - Ảnh: TTXVN
Thế hệ những nhà ngoại giao đi trước của hai nước - những người sinh ra trong thời kỳ khói lửa, trực tiếp cầm súng hoặc chứng kiến những giờ phút quan trọng của năm 1975 - đã phần nào hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Họ đã bắc những nhịp cầu đầu tiên, biến cựu thù thành đối tác, rồi thành Đối tác chiến lược toàn diện.
Giờ đây, khi những bóng dáng cũ dần lùi xa chính trường, trọng trách vun đắp mối quan hệ này đặt lên vai thế hệ sau năm 1975.
Đây là thế hệ không mang trên mình vết sẹo trực tiếp của chiến tranh, nhưng gánh vác một trọng trách to lớn: định vị mối quan hệ song phương Việt - Mỹ trong một thế giới đầy biến động, nơi trí tuệ nhân tạo (AI), chuỗi cung ứng, địa chính trị và an ninh phi truyền thống đang vẽ lại bản đồ quyền lực toàn cầu.
Sự xuất hiện của các nhà chính trị ngoại giao Mỹ sinh sau năm 1975 đánh dấu một bước ngoặt: từ ngoại giao "hậu chiến" sang ngoại giao "tương lai".
Đối với họ, Việt Nam không còn là một cái tên gắn liền với một cuộc chiến tranh xa xôi, mà là một đối tác quan trọng ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, một nền kinh tế bùng nổ và là phần quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay.

Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (phải), tặng quà lưu niệm cho ông Elbridge A. Colby, Thứ trưởng Chính sách thuộc Bộ Chiến tranh Mỹ, trong cuộc gặp tại Washington D.C ngày 19-2-2026 - Ảnh: TTXVN
Câu chuyện từ tầng thượng Caravelle
Tôi vẫn còn nhớ cách đây vài năm, Elbridge Colby, sinh năm 1979, người hiện giữ chức Thứ trưởng Bộ Chiến tranh Mỹ phụ trách chính sách, đã có một chuyến thăm và phát biểu tại TP.HCM.
Lúc đó Elbridge đang làm cho một tổ chức nghiên cứu chính sách của Mỹ có tên Center for a New American Security (CNAS) sau khi rời Bộ Quốc phòng Mỹ trong nhiệm kỳ 1 của Tổng thống Donald Trump.
Trong buổi tối hôm đó, tôi và Colby ngồi trên tầng thượng của khách sạn Caravelle, nhâm nhi một ly bia lạnh và cùng phóng tầm mắt về phía Nhà hát Thành phố.
Caravelle không chỉ là một khách sạn hạng sang, đó là chứng nhân lịch sử, nơi đặt văn phòng của các hãng tin quốc tế và là điểm đóng quân của nhiều quan chức Mỹ trước năm 1975, trong đó có ông nội của Elbridge - William Colby, cựu Giám đốc CIA - từng là Trưởng trạm CIA tại Sài Gòn.
Ngồi tại nơi mà ông nội mình từng trú ngụ, Elbridge Colby đã bất chợt hỏi tôi: "Liệu người Việt Nam các bạn hiện còn ghét cái tên Colby vì những gì ông nội tôi đã làm ở Việt Nam không?". Tôi cười lớn và đáp: "Chúng tôi trân trọng lịch sử, nhưng chúng tôi không sống trong đó. Người Việt Nam chúng tôi luôn hướng về tương lai".
Tôi hiểu rằng câu hỏi của Colby phản ánh một nỗi trăn trở cũ của người Mỹ, đặc biệt những người có người thân từng tham gia chiến tranh Việt Nam, mà chúng ta hay gọi là cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Nhiều thập kỷ qua, quan hệ Việt - Mỹ được vận hành bởi một mối quan tâm đặc biệt: sự hòa giải. Những người "lính già" như John McCain, John Kerry đã từng dành cả đời để kéo hai quốc gia ra khỏi hố sâu của quá khứ.
Tuy nhiên chúng ta không thể chỉ ngồi lại và nói về lịch sử mãi được. Trong những buổi nói chuyện cà phê hay buổi ăn trưa của tôi với các nhà ngoại giao Mỹ, chúng tôi thường nói về an ninh khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, về việc làm thế nào để Việt Nam trở thành một cứ điểm quan trọng trong ngành bán dẫn, cũng như cách Việt Nam ứng phó trong bối cảnh địa chính trị đầy rủi ro.
Một nhà ngoại giao Mỹ trẻ tuổi khác ở TP.HCM chỉ mới tới thành phố năng động này hơn một năm trước, hào hứng kể với tôi rằng anh đã mua một chiếc xe hơi để có thể tự lái xe đi du lịch xuyên Việt. Anh kể về những nơi ở Việt Nam mà anh đã đi qua, thậm chí tới cả những nơi mà người Việt như tôi chưa từng đặt chân tới.
Những người như thế hệ của Elbridge Colby đều hiểu rằng vì không trực tiếp trải qua xung đột, những nhà ngoại giao sinh sau cuộc chiến ít bị ràng buộc bởi những cảm xúc cá nhân hay những tranh cãi ý thức hệ cũ kỹ. Điều này cho phép họ tiếp cận các vấn đề song phương bằng một sự thực dụng (pragmatism) cao độ.
Giờ đây, đối với nước Mỹ, Việt Nam không còn là tên của một cuộc chiến, một nỗi đau chia rẽ nước Mỹ, hay những thước phim đen trắng về trực thăng trên nóc tòa đại sứ; mà là "một đối tác chiến lược toàn diện" không thể thiếu để duy trì một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương mở và tự do.
Còn đối với Việt Nam, Mỹ không còn là "kẻ thù cũ", mà là một thị trường xuất khẩu khổng lồ cho hàng hóa Việt Nam, công nghệ hàng đầu thế giới, cũng như một đối tác an ninh đáng tin cậy.

Nhân viên Cafe Giảng chụp ảnh cùng ông Lê Hồng Minh, nhà sáng lập VNG và ông Jensen Huang, CEO NVIDIA (thứ ba và thứ tư từ trái sang), tại Hà Nội tháng 12-2023 - Ảnh: CAFE GIẢNG
"Chúng tôi muốn Việt Nam tự cường và thịnh vượng"
Trong thập kỷ qua, tăng trưởng GDP của Việt Nam liên tục nằm trong nhóm cao nhất thế giới. Quốc gia này đã trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, một điểm đến "Trung Quốc cộng một" cho các gã khổng lồ công nghệ như Samsung, Apple hay Intel.
Nhưng đối với thế hệ hậu chiến, sức hút không chỉ nằm ở chi phí nhân công hay vị trí chiến lược. Đó còn là nguồn năng lượng lạc quan của một đất nước nơi khoảng 70% dân số sinh sau khi chiến tranh kết thúc. Họ nhìn nhận Việt Nam là một thực thể kinh tế năng động, một đối tác chiến lược tại Đông Nam Á, chứ không phải là một "vết thương tâm lý" cần được chữa lành.
Thế hệ trước ưu tiên việc tìm kiếm quân nhân mất tích (POW/MIA) và tẩy độc dioxin - những vấn đề vẫn quan trọng nhưng mang tính di sản, thế hệ nhà ngoại giao mới đang dần tập trung thẳng vào bán dẫn, sự dẻo dai của chuỗi cung ứng, AI và an ninh khu vực.
Trong một thời gian dài, chúng ta đã mắc kẹt trong cái mà các nhà phân tích gọi là "lăng kính song phương hẹp". Mọi cuộc đối thoại đều xoay quanh việc xử lý dioxin, tìm kiếm hài cốt (MIA) và những cử chỉ ngoại giao nhằm chứng minh rằng hai kẻ thù cũ đã thực sự là bạn.
Do đó điểm nhấn quan trọng nhất trong tầm nhìn của thế hệ nhà ngoại giao mới chính là việc đặt Việt Nam vào trung tâm của cấu trúc an ninh và kinh tế khu vực.
Việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2023 không chỉ là một danh xưng. Nó phản ánh một thực tế mới: Việt Nam là một "điểm nút thắt" quan trọng trong chiến lược chuyển dịch chuỗi cung ứng khỏi những rủi ro địa chính trị.
Bên cạnh đó an ninh phi truyền thống - từ biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long cho đến an ninh y tế sau đại dịch COVID-19 - cũng đang trở thành những ưu tiên hàng đầu.
Anh Justin, một nhà ngoại giao Mỹ mà tôi rất quý, từng nhận xét: "Khi chúng tôi tặng các tủ lạnh bảo quản vắc xin hay hỗ trợ công nghệ chuyển đổi năng lượng sạch, đó không chỉ là viện trợ. Đó là sự đầu tư vào một tương lai chung. Chúng tôi luôn muốn một Việt Nam tự cường và thịnh vượng".

Định hình tương lai
Mối quan hệ này không còn là câu chuyện song phương tách biệt, nó được đặt trong cấu trúc an ninh đa phương tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Thế hệ mới hiểu rằng một Việt Nam tự cường về quốc phòng và độc lập về ngoại giao là lợi ích chiến lược của Mỹ, và ngược lại, sự hiện diện ổn định của Mỹ là yếu tố cân bằng cho cấu trúc an ninh khu vực.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ngày càng căng thẳng, Việt Nam đang trở thành một hình mẫu của sự thích ứng.
Thế hệ nhà ngoại giao Mỹ mới nhìn nhận Việt Nam là một mắt xích quan trọng trong chiến lược "Friend-shoring" (dịch chuyển sản xuất sang các nước thân thiện) của Mỹ. Việc vun đắp quan hệ giờ đây nằm ở việc Việt Nam có thể tham gia sâu đến đâu vào hệ sinh thái bán dẫn và công nghệ cao của Intel, Nvidia hay Apple.
Những khuôn mặt nhà ngoại giao Mỹ của Đảng Dân chủ từng trực tiếp "cầm lái" chính sách của Mỹ tại khu vực như cựu cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Jake Sullivan, sinh năm 1976, hay Mira Rapp-Hooper, sinh năm 1984, cựu trợ lý đặc biệt Tổng thống Biden hay cho đến Elbridge Colby của Đảng Cộng hòa đều nhìn nhận Việt Nam là một quốc gia có tiếng nói trọng yếu trong việc duy trì tự do hàng hải tại Biển Đông, cũng như đối phó các thách thức về biến đổi khí hậu và an ninh phi truyền thống tại hạ lưu sông Mekong.
Việt Nam và Mỹ đang xây dựng một mối quan hệ đa lớp và toàn diện. Một mặt, đó là sự hợp tác quốc phòng ngày càng được thể chế hóa với những chuyến thăm của tàu sân bay Mỹ, cũng như hỗ trợ phòng chống thiên tai.
Mặt khác, đó là những thỏa thuận về việc giúp đỡ đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho ngành công nghệ Việt Nam.
Mới nhất vào cuối tháng 2-2026, Tổng thống Donald Trump cho biết sẽ chỉ đạo các cơ quan liên quan sớm đưa Việt Nam ra khỏi danh sách kiểm soát xuất khẩu chiến lược D1-D3 (phân loại các quốc gia theo mức độ hạn chế khi doanh nghiệp Mỹ xuất khẩu hàng hóa, phần mềm và công nghệ nhạy cảm), qua đó sẽ mở đường để Việt Nam tiếp cận với các công nghệ tiên tiến.
Quá khứ không thể thay đổi, nhưng rõ ràng chúng ta hoàn toàn có thể cùng nhau định hình tương lai. Đó cũng là sự can đảm từ cả hai bên để từ bỏ những định kiến cũ, để chấp nhận rằng sự khác biệt về hệ thống chính trị không phải là rào cản cho một tương lai chung.
Tẩy độc dioxin ở sân bay Biên Hòa
Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có sự xuôi chèo mát mái trong quan hệ song phương. Đó là thời điểm mà chính sách "Nước Mỹ trên hết" của Tổng thống Trump đã dẫn đến việc rà soát và tạm dừng hàng loạt các khoản viện trợ nước ngoài vào đầu năm ngoái. Ngân sách cho dự án tẩy độc chất dioxin sân bay Biên Hòa bị đưa vào trạng thái "đóng băng" tạm thời.
Một nhà ngoại giao Mỹ trẻ tuổi phụ trách hợp tác quốc phòng của Tổng lãnh sự quán Mỹ tại TP.HCM đã liên hệ tôi và hỏi ý kiến đánh giá. Việc hoàn tất tẩy độc chất dioxin tại sân bay Đà Nẵng trước đó được coi là một thắng lợi mang tính biểu tượng, còn Biên Hòa là một phép thử về sự kiên trì với chi phí và thời gian hoàn tất lâu hơn nhiều.
Với quy mô ô nhiễm gấp nhiều lần Đà Nẵng, đây không chỉ là một dự án kỹ thuật, nó là hiện thân của một lời hứa đạo đức giữa hai quốc gia. Và Mỹ là một đối tác đồng hành trong một hành trình mà đích đến là sự thịnh vượng bền vững.
Việc tiếp tục nguồn vốn tẩy độc sân bay Biên Hòa sau đó cho thấy một sự trưởng thành vượt bậc trong quan hệ hai nước, trong đó không thể thiếu phần đóng góp của những nhà ngoại giao trẻ tuổi.
Chính phủ Mỹ, qua các đời tổng thống khác nhau gần đây, đã gửi đi một thông điệp nhất quán: Việt Nam là một phần không thể tách rời trong tầm nhìn về một khu vực Thái Bình Dương thịnh vượng.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận