
Cần chi tiết hóa các “tọa độ”, tham số trong Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân. Trong ảnh: một tiết học của học sinh lớp 12, Trường THPT Võ Văn Kiệt, phường Bình Đông, TP.HCM - Ảnh: NHƯ HÙNG
Dự thảo "Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân" (khung cơ cấu) mà Bộ GD-ĐT vừa ban hành để lấy ý kiến góp ý nhằm sắp xếp cấu trúc tổng thể, chỉ ra con đường học tập cho phân luồng - liên thông, bảo đảm "minh bạch, dễ hiểu", và là "cơ sở để tham chiếu, đối sánh và so sánh quốc tế"...
Nghiên cứu hàng chục hệ thống giáo dục các nước cho thấy khung cơ cấu bắt buộc phải thể hiện các tham số tối thiểu mà thế giới coi là "tọa độ" của hệ thống: lứa tuổi/lớp, loại hình cơ sở giáo dục, hướng học tập, các con đường học tập, điểm chuyển tiếp và đầu ra kèm văn bằng/chứng chỉ, cùng thời lượng danh nghĩa theo khoảng của từng bậc/trình độ...
Không có các "tọa độ" đó, người học khó hình dung lộ trình, cơ quan quản lý khó chuẩn hóa thống kê, và đối tác quốc tế cũng khó "định vị" hệ thống để so sánh.
Mâu thuẫn nội tại
Điểm bất cập lớn nhất của dự thảo nằm ở khoản 6 điều 2: "Khung cơ cấu hệ thống giáo dục không quy định chuẩn năng lực, kết quả học tập, nội dung chương trình đào tạo, thời gian đào tạo, điều kiện tuyển sinh hoặc điều kiện cấp văn bằng, chứng chỉ; các nội dung này được thực hiện theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam và các quy định của pháp luật có liên quan".
Câu chữ này tạo ra mâu thuẫn nội tại: vừa muốn minh bạch - đối sánh, vừa rút khỏi khung cơ cấu những thông tin mà người học và đối tác quốc tế cần nhất để nhận dạng một bậc/trình độ. Nếu chỉ còn các nhãn cấp độ 0 - 8 và tên bậc/trình độ, khung cơ cấu dễ trở thành một sơ đồ minh họa, không đáp ứng được mục tiêu mà dự thảo đặt ra.
Ở đây phải phân biệt rành mạch để tránh "lẫn vai" giữa khung cơ cấu và Khung trình độ quốc gia (gọi tắt là khung trình độ). Khung trình độ tập trung vào chuẩn đầu ra/đặc trưng năng lực theo cấp độ và chỉ chú ý đến chuẩn đầu ra của trình độ mà không quan tâm đầu vào trình độ gì ở khung cơ cấu.
Điều này thể hiện triết lý khung trình độ gắn với thị trường lao động và thể hiện triết lý học suốt đời của người học. Ngược lại, khung cơ cấu theo thông lệ quốc tế cần ghi thời lượng danh nghĩa - điển hình của bậc học để mô tả cấu trúc một cách dễ hiểu, có thể thống kê và đối sánh.
Cách đúng là phân vai rõ: khung cơ cấu nêu thời lượng danh nghĩa - điển hình (theo khoảng) để nhận dạng bậc/trình độ; còn khung trình độ và các quy định đảm bảo chất lượng quy định khối lượng học tập và điều kiện kiểm soát chất lượng để tạo linh hoạt cho cá nhân và cơ sở đào tạo.
Nguy cơ khó vận hành
Từ góc nhìn pháp lý, dự thảo cũng cần thận trọng khi viện dẫn quá chung. Luật Giáo dục giao Thủ tướng phê duyệt cả khung cơ cấu và khung trình độ, đồng thời "quy định thời gian đào tạo, khối lượng học tập tối thiểu" đối với trình độ của giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.
Nhưng nếu dự thảo khung cơ cấu tuyên bố không quy định thời gian đào tạo mà không kèm phụ lục tham số tối thiểu (hoặc không chỉ rõ văn bản nào đang "gánh" phần thời gian/khối lượng tối thiểu), thì sẽ nảy sinh khoảng trống: mục tiêu minh bạch, đối sánh bị hụt, còn cơ sở pháp lý cho ban hành thì... trái Luật Giáo dục.
Bất cập này càng đáng bàn khi đặt trong tinh thần nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá giáo dục: tiếp thu "chuẩn mực quốc tế" và "tăng cường áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong hệ thống giáo dục quốc dân".
Hội nhập ở đây là hội nhập bằng công cụ quản trị, bằng khả năng đối sánh và công nhận, chứ không phải bằng "hô hào". Một khung cơ cấu thiếu "tọa độ" sẽ khiến yêu cầu "tiêu chuẩn quốc tế" khó đi vào vận hành.
Vì vậy, trong bối cảnh vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia, mọi dữ liệu về giáo dục cần chuẩn hóa, thống nhất, liên thông, dự thảo cần sửa theo hướng trả đúng vai cho từng khung. Theo đó, khung cơ cấu phải là "bản đồ" có đủ tọa độ tối thiểu để người học nhìn thấy đường đi khả thi và quốc tế đối sánh được.
Ít nhất phải bổ sung/đính kèm phụ lục về lứa tuổi lớp, hướng học tập, điểm chuyển tiếp kèm văn bằng, các lộ trình học tập và thời lượng danh nghĩa theo khoảng; đồng thời sửa khoản 6 để phân biệt rõ "thời gian học thực tế" do cơ sở giáo dục và đào tạo quyết định phù hợp với khối lượng học tập tham chiếu thuộc khung trình độ.
Nếu không làm rõ, khung cơ cấu sẽ vừa sai luật, vừa khó vận hành. Khi đó, hội nhập chỉ còn là khẩu hiệu, "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược" và tệ hơn ban hành xong lại sửa.
Căn cứ cho quản lý hệ thống
Khung cơ cấu hệ thống giáo dục là khung phân loại và sắp xếp cấu trúc của hệ thống giáo dục quốc dân, xác định các cấp học, trình độ đào tạo, luồng giáo dục và mối quan hệ giữa chúng trong toàn bộ hệ thống giáo dục, làm căn cứ cho quản lý hệ thống, phân luồng và liên thông giáo dục.
(Trích điều 1 dự thảo quyết định phê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân)
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận