12/03/2026 11:50 GMT+7

Vợ chồng có thể thỏa thuận 'tiền hôn nhân' về tài sản để hạn chế tranh chấp

Đã là vợ chồng thì tài sản làm ra là của chung để chăm sóc cha mẹ, nuôi con cái và tạo dựng gia sản, nhưng khi tranh chấp xảy ra lại vô cùng phức tạp. Thỏa thuận về chế độ tài sản trước khi kết hôn phần nào hạn chế những tranh chấp.

Vợ chồng có thể thỏa thuận 'tiền hôn nhân' về tài sản để hạn chế tranh chấp - Ảnh 1.

Vợ chồng có tài sản chung và tài sản riêng của mỗi người - Ảnh: AI

Luật Hôn nhân và Gia đình quy định vợ chồng được có tài sản riêng bên cạnh tài sản chung và được quyền thỏa thuận về tài sản trong hôn nhân.

Có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ tài sản đó là nguồn sống duy nhất của gia đình

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, thu nhập từ lao động, sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và các tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung (điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014).

Trong khi đó, điều 43 của luật này quy định tài sản riêng của vợ hoặc chồng bao gồm tài sản có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của mỗi người và tài sản được hình thành từ tài sản riêng.

Tài sản riêng của ai thì người đó có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Những nghĩa vụ phát sinh từ tài sản riêng phải dùng tài sản riêng để thực hiện. 

Người vợ, hoặc chồng có quyền bán, chuyển nhượng, tặng cho tài sản của riêng mình mà người kia không có quyền can thiệp.

Trường hợp tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì người sở hữu tài sản phải bàn bạc với chồng hoặc vợ khi định đoạt. Tương tự, khi vợ chồng ly hôn, tòa án chỉ chia tài sản chung nếu các bên có yêu cầu.

Thỏa thuận "tiền hôn nhân" về tài sản lập khi nào?

Trước khi kết hôn, người nam và người nữ có thể ký với nhau thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng. Điều 47 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng như sau:

Trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Điều 48 luật này quy định thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng phải có những nội dung cơ bản gồm: tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan.

Tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình; điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản; và nội dung khác có liên quan.

Khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định của luật.

Điều 15 Nghị định 126 năm 2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình gợi ý một số cách thỏa thuận về tài sản của vợ chồng:

- Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng.

- Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung.

- Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó.

Nếu không theo những thỏa thuận gợi ý trên, vợ chồng có thể thỏa thuận khác và phải phù hợp với Luật Hôn nhân và Gia đình. 

Nếu thỏa thuận không phù hợp thì người có quyền và lợi ích liên quan có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố thỏa thuận vô hiệu.

Không phải lúc nào tài sản chung cũng được chia đôi

Quá trình giải quyết tranh chấp, tòa án thường yêu cầu các bên cung cấp chứng cứ liên quan đến nguồn gốc tài sản như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán, hợp đồng tặng cho, giấy tờ chứng minh nguồn tiền hình thành tài sản hoặc các tài liệu khác thể hiện quá trình tạo lập và sử dụng tài sản.

Nếu vợ, chồng cho rằng một món tài sản nào đó là của riêng mình thì người đó phải có nghĩa vụ chứng minh. Ngược lại, nếu không chứng minh được nguồn gốc riêng của tài sản thì theo nguyên tắc chung, tài sản có thể được coi là tài sản chung của vợ chồng.

Khi đã xác định được đâu là tài sản chung, tòa án sẽ tiến hành chia tài sản theo các nguyên tắc được quy định tại điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Việc chia tài sản phải bảo đảm sự bình đẳng giữa vợ và chồng, đồng thời xem xét công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập và duy trì khối tài sản chung.

Tòa án cũng cân nhắc hoàn cảnh của mỗi bên, đặc biệt là quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con chưa thành niên, cũng như bảo đảm sự ổn định trong đời sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh của gia đình.

Vì vậy, tài sản không phải lúc nào cũng được chia đôi mà có thể được phân chia theo tỉ lệ khác nhau tùy từng trường hợp cụ thể.

Vợ chồng có thể thỏa thuận 'tiền hôn nhân' về tài sản để hạn chế tranh chấp - Ảnh 3.Khi nào hành vi vợ giữ thu nhập của chồng thành vi phạm pháp luật?

Thông tin về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình với mức phạt lên tới 30 triệu đồng đang được nhiều người quan tâm, đặc biệt là các cặp vợ chồng.

Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất