19/01/2026 16:32 GMT+7

Vẫn còn 'hạt sạn' điểm thưởng IELTS

Nhìn tổng thể, dự thảo quy chế tuyển sinh năm nay có nhiều điểm đáng ghi nhận. Nhưng bên cạnh nỗ lực đáng trân trọng ấy vẫn còn vài 'hạt sạn' mang tính thói quen chính sách, điển hình là việc vẫn duy trì cơ chế cộng điểm từ chứng chỉ tiếng Anh.

IELTS - Ảnh 1.

Điểm thưởng là một trong những nội dung nhiều thí sinh quan tâm tại các Chương trình tư vấn tuyển sinh - hướng nghiệp của báo Tuổi Trẻ. Trong ảnh: ban tư vấn trả lời câu hỏi của các thí sinh Thanh Hóa sáng 18-1 - Ảnh: NAM TRẦN

Năm nào cũng vậy, tuyển sinh luôn là "vùng nhạy cảm" nhất của giáo dục: chính sách không ổn định dù chỉ một thay đổi nhỏ trong quy chế cũng đủ làm hàng trăm nghìn thí sinh và phụ huynh phải tính lại đường đi nước bước. Mà đã là chính sách, thay đổi nào cũng kéo theo hệ lụy hai mặt: có cái tích cực, có cái tiêu cực, có cái hợp lý nhưng lại tạo hiệu ứng phụ khó lường.

Thiếu cơ sở khoa học

Cốt lõi của câu chuyện không nằm ở việc tiếng Anh quan trọng hay không. Tiếng Anh rõ ràng là năng lực công cụ, giống toán hay tin học/AI: nó giúp học tốt hơn, tiếp cận tri thức nhanh hơn, mở rộng cơ hội nghề nghiệp. Chính vì là năng lực công cụ nên càng cần đặt đúng vai trong tuyển sinh.

Vấn đề nằm ở chỗ: điểm thưởng cho tiếng Anh đang biến "công cụ học tập" thành "vé ưu tiên" trong cuộc đua thứ hạng, và tệ hơn, nó thường thiếu cơ sở khoa học đủ mạnh để thuyết phục xã hội rằng đây là một thiết kế công bằng.

Nếu "cộng 1 - 2 điểm" là để khuyến khích học tiếng Anh, câu hỏi đầu tiên phải trả lời là: Dựa trên cơ sở dữ liệu nào để quyết định con số đó? 1 điểm hay 2 điểm thậm chí 0,5 điểm đã có thể đảo thứ hạng trượt hay đỗ của một số thí sinh.

Nếu coi tiếng Anh là năng lực công cụ nên được cộng điểm, vậy tại sao không cộng điểm toán cho những ngành mà toán thực sự là "xương sống" như vi mạch bán dẫn, AI, khoa học dữ liệu? Thậm chí nếu lập luận là "vì ngành cần năng lực lõi", thì toán và tư duy tính toán ở các ngành này còn là lõi hơn cả.

Nếu chúng ta mở cánh cửa điểm thưởng cho chứng chỉ tiếng Anh, người ta sẽ hỏi: Vậy điểm toán học, tư duy logic, hay các bài đánh giá năng lực toán, tính toán có được thưởng không? 

Và nếu câu trả lời là "không" thì tiếng Anh đang được đối xử như một ngoại lệ khó giải thích. Ngoại lệ thì phải có lý do đặc biệt và bằng chứng đặc biệt, phải có tư duy, nếu không nó chỉ là "thói quen chính sách" được duy trì vì... trước nay vẫn cộng điểm.

Sự công bằng

Điểm hạn chế nữa và cũng nhạy cảm nhất là công bằng cơ hội. Khi biến chứng chỉ thành điểm thưởng, ta vô tình hợp thức hóa lợi thế điều kiện thành lợi thế điểm số. Câu chuyện dễ trở thành nghịch lý: thí sinh ở vùng khó khăn có điểm tổ hợp vượt trội vẫn có thể thua chỉ vì không có "điểm thưởng" từ chứng chỉ.

Khi đó cửa chính (thi xét theo tổ hợp) bị giảm giá trị, còn cửa phụ (chứng chỉ) lại có thể quyết định ai về đích trước. Vì vậy tuyển sinh có nguy cơ chuyển từ thi năng lực sang thi khả năng tích lũy lợi thế.

Thực ra có cách "đi đúng" hơn và ít gây tranh cãi hơn. Nếu ngành nào cần tiếng Anh như năng lực lõi, hãy đặt ngưỡng điều kiện rõ ràng: đạt hay không đạt. Ngưỡng theo ngành vừa đúng mục tiêu (bảo đảm đủ năng lực để học được), vừa giảm bức xúc xã hội.

Có thể dùng chứng chỉ thay thế điểm tiếng Anh trong tổ hợp, nhưng đã thay thế thì không cộng thêm điểm nữa, tránh "khuyến mại" điểm thưởng. 

Và hợp lý nhất: chứng chỉ tiếng Anh nên dùng sau khi trúng tuyển, xếp lớp, miễn học phần, rút ngắn lộ trình, để người học "đỡ học lại cái mình đã biết", đúng tinh thần liên thông công nhận giá trị năng lực tiếng Anh và năng lực thực cũng như khuyến khích học tiếng Anh.

Dự thảo năm nay có nhiều nỗ lực đáng ghi nhận để "dọn dẹp lại" quy chế, nhưng thói quen cộng điểm tiếng Anh vẫn là chi tiết dễ gây lăn tăn vì tạo cảm giác cửa phụ lấn cửa chính. Với một chính sách nhạy cảm như tuyển sinh, quyết định không nên dựa vào quán tính hay cảm tính, mà cần dựa trên dữ liệu và đánh giá tác động công bằng.

Trả tiếng Anh về đúng vai (ngưỡng theo ngành/ thay thế một lần/ miễn học phần sau trúng tuyển...) sẽ giúp quy chế gọn hơn và ít hệ lụy hơn.

Cần những phân tích

Tối thiểu phải có đánh giá về giá trị dự báo của chứng chỉ IELTS đối với kết quả học tập ở những ngành thực sự cần tiếng Anh, đồng thời có phân tích tác động đến tính công bằng xét tuyển giữa các khu vực, vùng miền theo điều kiện kinh tế.

Không có các phân tích đó, điểm cộng trở thành một quyết định chính sách khá tùy tiện, và trong tuyển sinh, sự tùy tiện là "nguồn gốc" dễ gây tranh cãi nhất.

Vẫn còn "hạt sạn" điểm thưởng IELTS - Ảnh 2.Khuyến khích học tiếng Anh không đồng nghĩa phải cộng điểm IELTS khi xét tuyển đại học?

Bạn đọc Tuổi Trẻ Online có hai luồng ý kiến khác nhau liên quan đến việc cộng điểm cho thí sinh có chứng chỉ IELTS khi xét tuyển đại học.

Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất