
Tại phiên tọa đàm Thị trường chứng khoán và doanh nghiệp Việt trong chu kỳ vốn mới, trong khuôn khổ Diễn đàn Thị trường vốn Việt Nam 2026, ông Johan Nyvene, Chủ tịch hội đồng quản trị Công ty Chứng khoán TP.HCM (HSC), cho rằng sự chuẩn bị của doanh nghiệp Việt Nam khi huy động vốn trên thị trường quốc tế còn hạn chế, kể cả ở những doanh nghiệp quy mô lớn.
Sự kiện với chủ đề "Dòng vốn mới - Vị thế mới của thị trường chứng khoán Việt Nam", do Báo Tuổi Trẻ phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tổ chức chiều 30-10.
Doanh nghiệp Việt Nam ngại thủ tục gọi vốn quốc tế
Theo ông Johan Nyvene, phần lớn doanh nghiệp trong nước vốn quen với phương thức huy động vốn truyền thống qua ngân hàng. Với cách này, doanh nghiệp thường chỉ cần cung cấp báo cáo tài chính quá khứ và tài sản bảo đảm để chứng minh khả năng trả nợ. Quy trình có thể hoàn tất trong vài tháng.
Tuy nhiên, khi thực hiện phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) hoặc phát hành riêng lẻ cho nhà đầu tư nước ngoài, yêu cầu hoàn toàn khác. Doanh nghiệp phải tổ chức các buổi giới thiệu cơ hội đầu tư (roadshow), trực tiếp gặp gỡ nhà đầu tư, trình bày chiến lược kinh doanh, triển vọng tăng trưởng và khả năng tạo dòng tiền trong tương lai.
Quá trình này đòi hỏi sự tham gia trực tiếp của lãnh đạo cấp cao hay giám đốc tài chính. Thế nhưng không ít doanh nghiệp chưa có đội ngũ đủ năng lực và kinh nghiệm để đảm nhiệm công việc này. Thậm chí, có trường hợp chủ tịch HĐQT hoặc tổng giám đốc không trực tiếp tham gia các buổi làm việc với nhà đầu tư.

Ông Johan Nyvene - Chủ tịch HĐQT Công ty Chứng khoán TP.HCM - cho rằng doanh nghiệp Việt vẫn thích "đánh nhanh" với vay vốn theo cách truyền thống - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Điều này khiến doanh nghiệp khó tạo dựng niềm tin, trong khi nhà đầu tư quốc tế đòi hỏi mức độ minh bạch và khả năng giải trình cao trước khi quyết định rót vốn.
Một điểm yếu khác nằm ở dữ liệu tài chính. Báo cáo đã được kiểm toán chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu thẩm định chuyên sâu. Nhà đầu tư có thể hỏi chi tiết về cơ cấu doanh thu, nguồn đóng góp doanh thu, nhóm khách hàng, tỉ trọng khách hàng mới và khách hàng hiện hữu, cũng như khả năng duy trì quan hệ với khách hàng dài hạn.
Chẳng hạn, khi doanh nghiệp công bố doanh thu tăng trưởng qua từng năm, nhà đầu tư không chỉ quan tâm kết quả quá khứ mà còn muốn biết triển vọng hai năm tiếp theo. Doanh thu đến từ nhóm khách hàng nào, bao nhiêu phần đến từ khách hàng dài hạn, khách hàng quay lại hay khách hàng mới?
"Nhiều doanh nghiệp chưa xây dựng được hệ thống dữ liệu và phương án giải trình đủ sâu để trả lời những câu hỏi này. Đây là hạn chế khiến việc thuyết phục nhà đầu tư quốc tế gặp khó khăn, ngay cả khi kết quả kinh doanh tích cực", ông Nyvene chia sẻ.
Bên cạnh năng lực tiếp cận nhà đầu tư, chi phí chuẩn bị cũng là rào cản mà doanh nghiệp cần tính đến.
Huy động vốn dài hạn không thể "nước đến chân mới chuẩn bị"
Theo ông Nyvene, huy động vốn qua ngân hàng thường không đòi hỏi nhiều chi phí tư vấn, chuẩn bị hồ sơ. Ngược lại, để phát hành cổ phiếu hoặc huy động vốn từ các tổ chức đầu tư quốc tế, doanh nghiệp cần nhiều đơn vị chuyên nghiệp tham gia, từ tư vấn tài chính, pháp lý, kiểm toán quốc tế đến bảo lãnh phát hành.
Các tổ chức kiểm toán quốc tế như PwC và những đơn vị tư vấn hàng đầu sẽ hỗ trợ rà soát, chuẩn hóa thông tin, giúp doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn của nhà đầu tư nước ngoài. Tổng chi phí chuẩn bị cho một thương vụ có thể lên tới vài triệu USD, tùy quy mô và tính chất.
"Vấn đề là nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa có kế hoạch dài hạn cho việc huy động vốn quốc tế mà thường chỉ tìm kiếm phương án gọi vốn khi nhu cầu tài chính trở nên cấp thiết", ông Nyvene chia sẻ.
Khi lãi suất ngân hàng tăng cao, doanh nghiệp mới tính đến chuyện chuyển sang huy động vốn quốc tế hoặc phát hành trái phiếu. Trong khi đó, chuẩn hóa dữ liệu, hoàn thiện hồ sơ tài chính và xây dựng đội ngũ có khả năng làm việc với nhà đầu tư đều cần thời gian.
"Doanh nghiệp cần chủ động đầu tư cho quá trình chuẩn bị ngay từ trước, thay vì chỉ tìm đến thị trường vốn quốc tế khi kênh tín dụng ngân hàng trở nên đắt đỏ hoặc khó tiếp cận", ông Nyvene chia sẻ.

Ông Khương Tiến Hùng - Trưởng ban Quản lý chào bán chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Ông Khương Tiến Hùng - Trưởng ban Quản lý chào bán chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước - cho hay từ 2024 đến nay Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã hoàn thiện nhiều cơ chế chính sách, trong đó có Luật Chứng khoán và nghị định, thông tin kèm theo.
Trong đó quan trọng nhất là Điều 111a (về đăng ký niêm yết cổ phiếu đồng thời với chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng của công ty cổ phần) gắn với niêm yết. Trước đây từ IPO đến niêm yết rất lâu vì phải đi qua hai cơ chế của hai cơ quan khác nhau, doanh nghiệp phải hoàn thành IPO rồi mới có thể tiến hành thủ tục niêm yết.
Sau khi có quy định mới thì doanh nghiệp có thể tiến hành song song hai thủ tục trên và hai cơ quan cùng xem xét một tài liệu song song trong cùng một thời gian, cùng phối hợp với nhau để trao đổi thông tin. Khi IPO xong thì doanh nghiệp có thể tiến hành thủ tục niêm yết ngay mà không cần xem xét lại các thủ tục làm cho quy trình niêm yết rất nhanh.
Trước đây IPO xong phải từ 3-6 tháng giờ chỉ cần 1 tháng. Thực tế cho thấy, chính tháo gỡ về thủ tục này khiến cho số thương vụ IPO và niêm yết "bùng nổ" trong thời gian ngắn vừa qua. Giai đoạn 2021 đến 2024 chỉ có 16 thương vụ IPO, số lượng vốn huy động được 6.500 tỉ đồng nhưng chỉ từ cuối 2025 đến nay đã có 10 tổ chức IPO và số vốn doanh nghiệp huy động được lên đến 60.000 tỉ đồng, gấp 9 lần trong 4 năm trước cộng lại.
Đây là chuyển biến rất tích cực. Tới đây Ủy ban Chứng khoán sẽ tiếp tục rà soát những bất cập, vướng mắc, nâng cao hạ tầng công nghệ và hướng đến sẽ xử lý tất cả thủ tục trên dịch vụ công trực tuyến toàn trình nhằm rút ngắn thời gian hơn nữa.
Đồng thời Ủy ban Chứng khoán sẽ giám sát mục đích sử dụng vốn sau khi phát hành. Sắp tới sẽ có nhiều doanh nghiệp FDI đăng ký niêm yết góp phần tạo thêm các hàng hóa mới, chất lượng cho thị trường. Ủy ban Chứng khoán sẽ đồng hành cùng doanh nghiệp. Dòng tiền thông minh sẽ chảy đến doanh nghiệp có nội tại tốt, sử dụng vốn mục đích, có hiệu quả minh bạch thông tin.
Doanh nghiệp Việt cần thay đổi tư duy để tiếp cận vốn quốc tế

Ông Nguyễn Đỗ Hòa - Giám đốc Cơ quan Hỗ trợ tài chính xuất khẩu Vương quốc Anh tại Việt Nam, Lào, Campuchia - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Thảo luận tại diễn đàn, ông Nguyễn Đỗ Hòa - Giám đốc Cơ quan Hỗ trợ tài chính xuất khẩu Vương quốc Anh (UKEF) tại Việt Nam, Lào và Campuchia - cho rằng doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi tư duy khi tìm kiếm nguồn vốn từ thị trường quốc tế.
Theo ông Hòa, câu hỏi không chỉ nằm ở việc nguồn vốn nước ngoài có lãi suất rẻ hay đắt, mà quan trọng hơn là nguồn vốn đó có phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của doanh nghiệp, dự án hay không. Để tiếp cận các định chế tài chính quốc tế, doanh nghiệp cần chú trọng tính minh bạch trong hoạt động, cách thức vận hành và khả năng chứng minh tính khả thi của dự án đầu tư.
Doanh nghiệp Việt Nam lâu nay phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng, do đó, muốn tiếp cận những nguồn vốn khác, doanh nghiệp cần có sự chuẩn bị tốt hơn, từ các tiêu chuẩn ESG, kế hoạch phát triển dài hạn đến phương án dự phóng dòng tiền của dự án.
"Chúng tôi đang hỗ trợ các thị trường đang phát triển, trong đó có Việt Nam, tiếp cận nguồn vốn quốc tế. Một số lĩnh vực được đề cập gồm năng lượng sạch, hạ tầng xanh và các dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam", ông Hòa nói thêm.
Nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia giúp doanh nghiệp giảm chi phí vốn

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Phó chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM - Ảnh: QUANG ĐỊNH
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Phó chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế TP.HCM - cho rằng xếp hạng tín nhiệm quốc gia là thước đo quan trọng, làm cơ sở để nhà đầu tư nước ngoài đánh giá và quyết định đầu tư vào một nền kinh tế.
Theo ông Huân, xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp không thể cao hơn xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Do đó, khi Việt Nam cải thiện và nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia, các doanh nghiệp trong nước cũng có thêm cơ hội cải thiện xếp hạng, qua đó thuận lợi hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn quốc tế.
Đáng chú ý, xếp hạng tín nhiệm càng cao thì chi phí huy động vốn càng thấp. Điều này có thể khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam mạnh dạn hơn trong việc tìm kiếm và huy động vốn trên thị trường quốc tế. Ông Huân cho biết trong bối cảnh chi phí huy động vốn trong nước hiện khá cao, nguồn vốn từ thị trường quốc tế đang là một trong những kênh được doanh nghiệp Việt Nam quan tâm.

Ông Phùng Xuân Minh - Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty xếp hạng tín nhiệm Saigon Ratings
Ông Phùng Xuân Minh - Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty xếp hạng tín nhiệm Saigon Ratings - cho biết sau 10 năm hoạt động, đơn vị đã thực hiện xếp hạng gần 600 doanh nghiệp. Qua thực tiễn đánh giá, có ba vấn đề đáng chú ý khi nhìn nhận mức độ tín nhiệm và rủi ro tài chính của doanh nghiệp Việt Nam.
Thứ nhất, phần lớn doanh nghiệp hiện được xếp hạng và so sánh trong phạm vi thị trường nội địa. Do đó, một số doanh nghiệp có thể đạt mức tín nhiệm tương đối cao khi so sánh với các doanh nghiệp trong nước, nhưng kết quả có thể khác khi áp dụng hệ thống xếp hạng quốc tế, do còn chịu ảnh hưởng của trần tín nhiệm quốc gia.
Thứ hai, cần đánh giá toàn diện các nhóm rủi ro, từ vĩ mô, ngành nghề, hoạt động kinh doanh đến tài chính và triển vọng phát triển. Theo ông Minh, nhiều doanh nghiệp Việt Nam có lịch sử hoạt động và tích lũy vốn chưa dài, khiến dữ liệu để đánh giá khả năng tạo dòng tiền, sức chống chịu qua các chu kỳ kinh doanh còn hạn chế. Bên cạnh đó, đại dịch COVID-19 cũng tác động đáng kể đến sức khỏe tài chính doanh nghiệp.
Thứ ba là cơ cấu nguồn vốn. Phần lớn doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng với kỳ hạn tương đối ngắn, trong khi nhiều dự án đầu tư cần thời gian dài để triển khai và thu hồi vốn. Sự chênh lệch kỳ hạn này có thể tạo áp lực lên dòng tiền và khả năng thanh toán.
Những tiêu chí quyết định quỹ đầu tư rót vốn dài hạn vào doanh nghiệp
Tiếp đó là tương quan về cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ khác trên thị trường, và công ty có những lợi thế nào để duy trì năng lực cạnh tranh đó. Ngoài ra, quỹ cũng nhìn vào chiến lược, năng lực của ban lãnh đạo công ty cũng như chất lượng quản trị doanh nghiệp.
"Chúng tôi đặt yếu tố quan trọng vào độ minh bạch trong quản trị doanh nghiệp cũng như tính minh bạch về công bố thông tin. Cùng với đó là việc ban lãnh đạo doanh nghiệp cần phải đặt lợi ích của cổ đông song song với lợi ích của ban lãnh đạo cũng như lợi ích của doanh nghiệp", ông Minh chia sẻ.
Tuy nhiên, cũng theo ông Minh, có những trường hợp mặc dù công ty có tăng trưởng nhưng các quỹ đầu tư vẫn rất thận trọng trong việc quyết định đầu tư, bao gồm việc chất lượng tăng trưởng không chỉ đến từ số liệu lợi nhuận trên báo cáo tài chính.
Chẳng hạn có những công ty báo cáo số liệu lợi nhuận tăng trưởng nhưng dòng tiền lại không đi đôi tương xứng, như thu nhập bất thường hay những giao dịch về tài chính không làm phát sinh dòng tiền mà không mang lại lợi ích cho cổ đông. Hay có một số doanh nghiệp bị quỹ né tránh vì những vấn đề về quản trị doanh nghiệp hay niềm tin đối với ban lãnh đạo của doanh nghiệp. Hoặc những doanh nghiệp có giá cổ phiếu chào bán quá đắt…
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận