
Người dân lội qua một khu vực ngập nước trong trận mưa lớn tại Bangkok, Thái Lan, ngày 27-9-2026. Ảnh: REUTERS
Tại Bangkok, nơi các bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương vừa kết thúc cuộc họp thường niên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (World Bank), một con số đã phơi bày sự bất bình đẳng ngày càng lớn của kinh tế toàn cầu: các nước nghèo hiện phải dành bình quân khoảng 14% nguồn thu chính phủ để trả nợ, so với chỉ 6% một thập niên trước. Họ nói tới ba cú sốc cùng lúc.
Nợ công gây cú sốc cho chi tiêu giáo dục và lương hưu trong năm 2026
Con số 14% nghe có vẻ không quá lớn nếu nhìn từ góc độ một doanh nghiệp hay một hộ gia đình. Nhưng đối với một chính phủ có nguồn thu ngân sách hạn chế, đó là khoản tiền khổng lồ. Cứ 100 đồng thu được, bình quân 14 đồng phải dành cho các nghĩa vụ nợ, trước khi tính đến việc chi trả cho giáo viên, bác sĩ, cơ sở hạ tầng hay những chương trình hỗ trợ người nghèo…
Nợ công tự nó không phải điều xấu. Vay nợ để xây dựng hạ tầng, nâng cao chất lượng giáo dục hay phát triển năng lực sản xuất có thể tạo ra nguồn thu tương lai đủ để hoàn trả các khoản vay. Vấn đề chỉ xuất hiện khi chi phí vay tăng nhanh hơn khả năng tạo ra thu nhập của nền kinh tế, khiến ngân sách phải ưu tiên trả nợ thay vì đầu tư cho tăng trưởng.
Với các nước giàu, tình trạng này thường được giải quyết bằng nhiều công cụ: phát hành trái phiếu kỳ hạn dài và tăng thêm thuế. Với các nước nghèo, những lựa chọn như vậy hạn chế hơn nhiều.
Vậy lựa chọn của họ là gì? Là cắt ngân sách giáo dục, y tế và an sinh xã hội như lương hưu.
Và đó mới là bản chất của cái giá mà các nền kinh tế đang phát triển đang phải trả trong môi trường nợ công với lãi suất ngày một cao, trong khi chi phí về năng lượng tăng lên hiện nay.
Ba cú sốc cùng lúc
Điểm khác biệt của tình hình hiện nay so với nhiều cuộc khủng hoảng trước đây là các nước đang phát triển không đối mặt với một cú sốc đơn lẻ.
Trong báo cáo "Không kịp nghỉ để hồi phục" ("No Time to Recover") công bố tháng 10 năm nay, Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) cảnh báo về ba cú sốc đang đồng thời tấn công các nền kinh tế dễ tổn thương: khủng hoảng năng lượng, hiện tượng khí hậu El Niño và chi phí vay vốn tăng mạnh.
Cú sốc thứ nhất đến từ năng lượng. Xung đột tại Trung Đông khiến giá dầu tăng cao, đẩy chi phí vận tải, sản xuất và điện năng lên theo. Với các nước phụ thuộc nhập khẩu nhiên liệu, đây không đơn thuần là câu chuyện giá xăng tăng, mà còn là áp lực lên cán cân thanh toán, tỉ giá và lạm phát.
UNDP cho biết, trong số 130 quốc gia được khảo sát, giá xăng và dầu diesel đã tăng bình quân từ 25% đến gần 40% kể từ khi xung đột bùng phát.
Ban đầu, nhiều chính phủ tìm cách bảo vệ người dân thông qua trợ giá nhiên liệu và các biện pháp bình ổn, nhưng những chính sách này ngày càng trở nên đắt đỏ.
Cú sốc thứ hai đến từ El Niño. Hiện tượng khí hậu này có thể gây hạn hán tại một số khu vực, mưa lũ tại các khu vực khác, làm gián đoạn sản xuất nông nghiệp và nguồn cung thực phẩm. Trong bối cảnh giá nhiên liệu và phân bón đã tăng, một mùa vụ thất bát có thể khiến giá lương thực leo thang mạnh hơn.
Cú sốc thứ ba, và có lẽ xuất hiện trên truyền thông nhiều nhất, đến từ thị trường tài chính toàn cầu. Lãi suất và lợi suất trái phiếu quốc tế duy trì ở mức cao khiến các nước nghèo phải trả nhiều tiền hơn để vay mới hoặc tái cấp vốn cho những khoản nợ đến hạn.
Theo lãnh đạo UNDP Alexander De Croo, chi phí huy động vốn qua trái phiếu của các nước đang phát triển vào thời điểm đầu tháng 10-2026 lên tới khoảng 9%. Mức chi phí này khiến nhiều dự án phát triển vốn đã có khả năng sinh lời thấp trở nên khó tài trợ.
Điều đáng sợ không nằm ở từng cú sốc riêng lẻ, mà ở cách chúng cộng hưởng. Giá năng lượng làm tăng lạm phát, lạm phát khiến việc giảm lãi suất khó khăn hơn, trong khi lãi suất cao lại thu hẹp khả năng chi tiêu của chính phủ để bảo vệ người dân.
Chủ tịch World Bank Ajay Banga đã cảnh báo về chính sự kết hợp nguy hiểm giữa giá nhiên liệu, phân bón, El Niño và nợ công. Đây là tình huống mà mỗi cú sốc đều khiến nền kinh tế khó chống đỡ cú sốc tiếp theo.

Hình ảnh tại trụ sở Ngân hàng Thế giới ở Washington, Hoa Kỳ. - Ảnh: Reuters
Khủng hoảng chi phí sinh hoạt
Khủng hoảng chi phí sinh hoạt (cost-of-living crisis) đã không còn là điều xa lạ với mọi nền kinh tế năm nay, kể cả các nước giàu, như những gì chúng ta đang chứng kiến với những cuộc biểu tình và đập phá ở nhiều nước châu Âu. Nhưng tại những quốc gia nghèo, hậu quả thường khắc nghiệt hơn nhiều.
Một gia đình trung lưu tại châu Âu có thể cắt giảm du lịch hoặc giải trí khi giá năng lượng tăng. Nhưng một gia đình nghèo ở châu Phi hoặc Nam Á sẽ phải giảm khẩu phần ăn, trì hoãn chữa bệnh hoặc cho con nghỉ học.
Đây là tác động có tính bất bình đẳng căn bản và đau lòng của lạm phát. Giá cả tăng cùng một tỉ lệ, nhưng những người có thu nhập thấp phải gánh chịu tổn thất phúc lợi lớn hơn bởi thực phẩm và năng lượng chiếm phần lớn ngân sách gia đình.
UNDP ước tính nếu toàn bộ mức tăng giá năng lượng và lương thực được chuyển sang người tiêu dùng, có thể sẽ có thêm 130 triệu người rơi xuống dưới ngưỡng thu nhập 6,85 USD/ngày và 66 triệu xuống dưới mức 2,15 USD/ngày.
Tôi đã sốc với những con số này. Cho đến nay, nhiều chính phủ tránh diễn biến xấu nhất đối với cuộc khủng hoảng chi phí sinh hoạt bằng giải pháp trợ giá nhiên liệu và kiểm soát giá, nhưng những biện pháp ấy ngày càng đắt đỏ. UNDP ước tính trợ cấp nhiên liệu hóa thạch trên toàn cầu có thể vượt 1.000 tỉ USD trong năm nay.
Ai cũng nhìn thấy một thực tế rõ ràng là chính phủ không thể trợ giá vô thời hạn. Khi ngân sách cạn kiệt và chi phí vay tăng, họ buộc phải lựa chọn giữa hai vấn đề: Hoặc tiếp tục bảo vệ người tiêu dùng và chấp nhận thâm hụt ngân sách lớn hơn hoặc để giá cả tăng theo thị trường và làm cuộc khủng hoảng chi phí sinh hoạt trầm trọng hơn.
Bất kỳ lựa chọn nào cũng có cái giá của nó. Nếu tiếp tục trợ cấp, gánh nặng ngân sách gia tăng. Nếu giảm trợ cấp, sức mua hộ gia đình suy yếu, tiêu dùng và sản xuất chậm lại. Tăng trưởng thấp lại khiến nguồn thu thuế suy giảm, làm khả năng trả nợ trở nên khó khăn hơn.
Một cuộc khủng hoảng sinh hoạt vì thế có thể biến thành khủng hoảng tài chính công, rồi khủng hoảng nợ quốc gia. Khủng hoảng nợ sẽ quay trở lại làm trầm trọng thêm khó khăn của người dân.

Tàu chở khí hóa lỏng (LPG) G. Spirit trên kênh đào Panama - Ảnh: AFP
Vòng lặp từ khủng hoảng chi phí sinh hoạt đến khủng hoảng nợ
Theo Reuters, các nước đang phát triển phải thanh toán khoảng 400 tỉ USD cho các chủ nợ nước ngoài trong năm 2026, trong khi riêng tiền lãi đã chiếm bình quân hơn 10% nguồn thu chính phủ.
Chủ tịch nhóm G24, Bộ trưởng Tài chính Nigeria Taiwo Oyedele, còn cảnh báo các nước đang phát triển đang phải gánh chi phí nợ cao hơn khoảng 500 tỉ USD so với các nền kinh tế phát triển, theo ước tính được ông dẫn lại.
Bi kịch nằm ở chỗ những nền kinh tế cần vốn đầu tư nhất lại phải trả chi phí vốn đắt nhất. Một quốc gia có hệ thống điện yếu kém cần vay tiền xây nhà máy điện, nhưng lãi suất cao khiến dự án trở nên khó khả thi. Không có điện ổn định, doanh nghiệp không thể mở rộng sản xuất, năng suất lao động trì trệ và nguồn thu ngân sách tiếp tục hạn chế. Vòng xoáy cứ thế lặp lại.
Khác với Mỹ hay các nước phát triển có khả năng vay dài hạn bằng đồng nội tệ, nhiều nước nghèo phụ thuộc vào nguồn vốn ngoại tệ. Khi lãi suất USD tăng, dòng vốn có xu hướng quay về những tài sản an toàn hơn. Đồng tiền các nước nghèo mất giá, làm gánh nặng nợ nước ngoài càng lớn.
Điều này đặt một vấn đề rất quan trọng đang được các nhà kinh tế cảnh báo: tỉ lệ nợ công/GDP không phản ánh đầy đủ mức độ rủi ro vĩ mô của một quốc gia. Một quốc gia có tỉ lệ nợ công/GDP tương đối thấp vẫn có thể gặp khủng hoảng nợ nếu phải trả nợ bằng ngoại tệ trong thời gian ngắn, với lãi suất quá cao.
Tổng giám đốc UNDP Alexander de Croo
Chúng ta đang chứng kiến một ‘cơn bão hoàn hảo’ có nguy cơ đẩy hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu người rơi trở lại cảnh nghèo đói
Từ khủng hoảng nợ đến tụt hậu
Khủng hoảng nợ có rủi ro sẽ trở thành khủng hoảng phát triển dài hạn với các nền kinh tế đang phát triển.
Tờ The Guardian vừa trích dẫn một số báo cáo cho thấy các quốc gia thu nhập thấp đang gặp khó khăn hoặc có nguy cơ khủng hoảng nợ đã cắt giảm ngân sách giáo dục bình quân khoảng 8% kể từ năm 2019, trong khi chi tiêu công nói chung giảm khoảng 2%.
Khi nợ công và chi phí trả nợ hàng năm cao, nhiều người già có thể phải chi tiêu tằn tiện hơn cho những nhu cầu thiết yếu. Nhiều đứa trẻ sẽ phải bỏ học và chúng có thể phải chịu thiệt thòi về thu nhập trong suốt cuộc đời vì mất đi những cơ hội đào tạo nghề.
Khi thiếu tiền đầu tư - phát triển, một công trình hạ tầng có thể chờ thêm vài năm nhưng một đứa trẻ không được đến trường hôm nay khó có thể lấy lại đầy đủ những cơ hội đã mất. Đó là lúc khủng hoảng nợ chuyển thành gánh nặng đối với phát triển dài hạn.
Từ khủng hoảng nợ đến tụt hậu nhiều thập kỷ vì vậy chỉ là một lằn ranh mong manh. Hậu quả lớn nhất có thể không phải là những khoản nợ đến hạn, mà là cả một thế hệ mất mát không còn cảm nhận được lợi ích của tăng trưởng kinh tế nữa.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận