
Dầu đá phiến đã làm thay đổi cuộc chơi năng lượng toàn cầu - Ảnh: Reuters
Dầu đá phiến giúp Mỹ tự tin
Trước khi Tổng thống Donald Trump và đồng minh Israel tấn công Iran, giới lãnh đạo quân sự Mỹ đã xây dựng các kịch bản chiến tranh với Iran gần như không ngừng nghỉ kể từ năm 1979.
Nhưng một lý do chính khiến hết đời tổng thống này đến đời tổng thống khác phải chùn tay là thực tế đáng lo ngại: Iran luôn có thể phong tỏa eo biển Hormuz - tuyến đường thủy huyết mạch nơi khoảng 1/4 lượng dầu mỏ và 1/5 lượng khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) thế giới đi qua.
Iran cũng có thể tấn công các mỏ dầu và cơ sở năng lượng của các nước vùng Vịnh lân cận. Và họ đã làm đúng như vậy khi Mỹ và Israel leo thang trong cuộc chiến.
Không phải ngẫu nhiên mà mọi tổng thống từ Jimmy Carter đến nay, sau khi xem xét phương án chiến tranh với Iran do Lầu Năm Góc trình bày, đều đã phủ quyết. Vậy điều gì đã thay đổi trong thời Tổng thống Trump?
Câu trả lời ưa thích cho tới giờ là tính khí thất thường của Tổng thống Mỹ, bị Israel giật dây hay thậm chí Mỹ bước vào cuộc chiến mà không có mục tiêu chiến thuật rõ ràng. Tất cả những điều đó đều có thể đúng phần nào nhưng còn thiếu một nguyên nhân có thể là cốt lõi.
Trong mắt Mỹ vai trò chiến lược của Hormuz đã thay đổi nhờ một nhóm những nhà khoa học lập dị mê mải với môn địa chất học làm việc cho một số ít công ty năng lượng Mỹ đã tìm ra cách bơm nước vào các thành tạo đá phiến ở áp suất đủ cao để đánh bật hydrocarbon bám trong đá, từ đó tạo ra một dòng nhiên liệu hoàn toàn mới với sản lượng không thể đong đếm.
Trong khoảng thời gian ngắn đến kinh ngạc, từ năm 2003 đến 2015, kỹ thuật khoan ngang và gây nứt vỡ thủy lực - tức fracking - vươn lên đóng vai trò then chốt trong sản xuất năng lượng của Mỹ. Cuộc cách mạng đá phiến kéo theo những hệ lụy địa chính trị được thể hiện rõ ràng qua cuộc chiến ở Iran một cách đầy kịch tính.
Từng chút một, quá trình khai thác dầu bằng kỹ thuật fracking đã nới lỏng sự kìm kẹp của eo biển Hormuz với chiến lược của Mỹ ở Trung Đông, cho phép họ rảnh tay và tự tin hơn hẳn để hành động.
Giữa diễn tiến chiến sự nóng bỏng, một sự kiện ít được để ý hơn xảy ra vào giữa tuần trước. Theo dữ liệu tháng 3-2026 từ Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ (EIA), sản lượng dầu thô của Mỹ đã đạt 24 triệu thùng/ngày, tức nhiều hơn sản lượng của Saudi Arabia (10,9 triệu) và Nga (10,5 triệu) cộng lại. Phần lớn sự phát triển bùng nổ này là do đổi mới trong khai thác dầu đá phiến.
Chưa hết, chuyến hàng LNG đầu tiên của Mỹ xuất cảng mới năm 2016 nhưng nay họ đã trở thành nước xuất khẩu mặt hàng này lớn nhất thế giới, đạt trung bình 425-450 triệu m3/ngày. Sản lượng khí tự nhiên của Mỹ cũng đã vượt mốc 3 tỉ m3/ngày, tức hơn 1.100 tỉ m3/năm, gấp khoảng 6 lần so với Qatar và số liệu của Qatar là trước khi chiến tranh nổ ra. Ngay cả Nga, vốn nổi tiếng là siêu cường năng lượng, cũng chỉ có tổng sản lượng khí đốt hằng năm khoảng 620 tỉ m3, tức bằng hơn một nửa của Mỹ.
Khí và dầu đá phiến đã thay đổi hoàn toàn ý nghĩa của năng lượng với nền kinh tế Mỹ. Vào năm 2024 khí tự nhiên đạt mức cao kỷ lục khi chiếm 36% tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp của nền kinh tế số 1 thế giới, gần tương đương dầu mỏ (38%).
Để so sánh, một thập niên trước khí đốt mới chỉ chiếm khoảng 1/4 và dầu chiếm 40% nguồn năng lượng sơ cấp của Mỹ. Fracking đã biến khí tự nhiên, vốn từng chỉ có vai trò phụ trợ, thành nguồn năng lượng quan trọng ngang ngửa dầu mỏ.
Hơn nữa, khí tự nhiên không được giao dịch toàn cầu như dầu mỏ. Nó mang tính khu vực cao độ, bị khóa chặt vào các mạng lưới đường ống và hợp đồng dài hạn, điều đồng nghĩa cú sốc giá từ những cuộc chiến ở nước ngoài không đánh vào túi tiền dân Mỹ nhanh chóng như giá dầu.
Giá dầu tăng vọt sẽ lập tức cảm nhận được ở trạm xăng trên khắp thế giới. Nhưng khi giá khí đốt tăng vọt ở những nơi phụ thuộc vào nguồn cung Trung Đông, giá ở Mỹ hầu như không nhúc nhích.
Khi Mỹ và Israel bắt đầu các cuộc không kích ngày 28-2, họ đã hành động dựa trên rất nhiều mục tiêu nhưng nền tảng cho tất cả những tính toán đó là hiểu biết rằng cú sốc năng lượng kéo theo sẽ mang tính bất đối xứng không kém các cuộc không kích. Người Mỹ cũng sẽ chịu thiệt hại nhưng phần còn lại của thế giới sẽ tả tơi.
Thậm chí ở cấp độ vĩ mô, năng lượng càng đắt đỏ thì càng có lợi cho Mỹ. Một chính quyền thận trọng hơn sẽ coi cú sốc năng lượng toàn cầu là điều tồi tệ, vì nó gây mất ổn định cho địch thủ cũng nhiều như cho đồng minh. Hơn nữa nếu muốn tiếp tục đóng vai cảnh sát toàn cầu, Mỹ không thể trở thành tác nhân gây bất ổn.

Nhà máy điện than có thể thành lựa chọn của Trung Quốc khi nguồn cung khí đốt không còn được bảo đảm - Ảnh: Reuters
Trung Quốc và than đá
Tất nhiên, đối thủ mà Mỹ lo ngại không phải là Bangladesh hay Thái Lan, vốn chỉ là những nạn nhân tên bay đạn lạc, mà là Trung Quốc. Nhưng liệu cuộc chiến này có đủ để làm tê liệt Trung Quốc?
Trong nhiều thập niên, giới lãnh đạo Bắc Kinh cũng đã quan tâm với chính kịch bản đang diễn ra. Nhưng không giống Mỹ, họ không thể dùng công nghệ fracking để tiến tới độc lập năng lượng. Thay vào đó, Trung Quốc chọn nguồn tài nguyên mà họ không thiếu: than đá. Tính đến tháng 7-2025 có gần 1.200 nhà máy điện chạy than đang hoạt động ở nước này, bằng cả phần còn lại của thế giới cộng lại.
Trung Quốc cũng đang xây dựng nhà máy mới với tốc độ ngày càng nhanh, tạo nên hệ thống dự phòng khổng lồ cho ngày mà dầu và khí đốt không còn trông cậy được nữa. Ngay trước khi cuộc chiến bắt đầu, các nhà máy này chỉ vận hành khoảng 50% thời gian. Trong cuộc cạnh tranh với năng lượng mặt trời và năng lượng gió giá rẻ, một phần lớn nhà máy điện chạy than đang thua lỗ.
Nhưng như mọi chuyện khác ở Trung Quốc, công suất dư thừa này là có ý đồ: hàng trăm nhà máy nhàn rỗi cũng chính là kho dự trữ năng lượng chiến lược để chuẩn bị cho ngày mà Qatar không thể giao LNG vì chiến tranh và Mỹ thì đã chuyển sang vị thế đối đầu. Tháng 3 này, ngày đó đã đến.
Khi giá LNG tăng vọt và nguồn cung sụp đổ, Trung Quốc kích hoạt chính sách bảo hiểm và bật các nhà máy than lên. Nhưng than đá bẩn hơn nhiều so với LNG. Tiêu thụ thêm 1 tỉ tấn than sẽ tạo ra khoảng 2 tỉ tấn khí thải CO2 trong một năm. (Mỹ hiện phát thải tổng cộng khoảng 4,7 tỉ tấn mỗi năm).
Đó là lý do tại sao cuộc chiến ở Iran còn là một thảm họa với khí hậu. Khi cuộc cách mạng dầu đá phiến định hình, giới vận động cho kỹ thuật khai thác này đã nói rất nhiều về việc nó sẽ cho phép Mỹ chuyển đổi từ than đá gây ô nhiễm cao sang khí tự nhiên ít ô nhiễm hơn để phát điện. Nhưng hệ quả trực tiếp hiện giờ là dầu đá phiến khiến Mỹ sẵn sàng hành động liều lĩnh hơn và do đó buộc Trung Quốc phải tái khởi động các nhà máy điện than trên diện rộng.
Tác động trực tiếp của chiến tranh thì dễ thấy nhưng tác động gián tiếp sẽ để lại hậu quả lâu dài hơn nhiều. Nếu cuộc chiến Iran rốt cuộc làm gia tăng biến đổi khí hậu và củng cố chiến lược than đá của Trung Quốc thì tất cả sẽ cùng thua.
"Khoan, khoan nữa, khoan mãi"
Ngay từ nhiệm kỳ đầu tiên, Tổng thống Trump đã nhấn mạnh mong muốn nới lỏng các quy định về môi trường với mảng năng lượng qua chính sách "Khoan, khoan nữa, khoan mãi". Một số ước tính cho thấy sản lượng năng lượng ở Mỹ đã tăng 60% trong nhiệm kỳ 2016-2020 của ông. Nhiệm kỳ 2 này con số đó được dự báo sẽ còn lớn hơn nữa.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận