Xin hỏi luật sư, trong trường hợp vợ chồng ly hôn thì công sức chăm sóc con cái và gia đình của tôi có được pháp luật công nhận không? Khi chia tài sản chung, tôi có được hưởng phần tài sản nào không, và việc tôi không có thu nhập có ảnh hưởng đến quyền được chia tài sản hay không?
Mong luật sư giải đáp giúp tôi. Tôi chân thành cảm ơn luật sư!
Luật sư Phan Nhi (Đoàn luật sư TP.HCM) trả lời:

Luật sư Phan Nhi - Đoàn luật sư TP.HCM
Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, việc một người không trực tiếp đi làm, không có tiền lương hoặc thu nhập riêng không đồng nghĩa với việc người đó bị tước bỏ quyền được chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
Với trường hợp của bạn, có thể xem xét các vấn đề sau:
Thứ nhất, công sức chăm sóc con cái và gia đình của bạn được pháp luật ghi nhận là một hình thức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân.
Khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định vợ, chồng bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung và “không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập”.
Như vậy, sự đóng góp của mỗi bên không chỉ được nhìn nhận qua tiền lương hay thu nhập trực tiếp mà còn bao gồm các công việc cần thiết để chăm sóc con cái và duy trì đời sống gia đình.
Nguyên tắc này được thể hiện tại điểm b khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp: “Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm”.
Vì vậy, trong trường hợp chồng đi làm tạo thu nhập, còn bạn ở nhà chăm con, nội trợ và quán xuyến gia đình, không thể chỉ dựa vào việc chồng là người trực tiếp nhận lương để cho rằng toàn bộ công sức tạo dựng tài sản thuộc về chồng.
Phần công việc bạn đảm nhận trong gia đình cũng là một đóng góp được pháp luật ghi nhận khi xem xét chia tài sản chung.
Thứ hai, việc bạn không có thu nhập riêng không làm mất quyền được chia tài sản chung khi ly hôn và tỉ lệ phân chia phần tài sản được hưởng còn phụ thuộc vào các yếu tố luật định.
Pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng về việc chia tài sản.
Nếu hai bên không thỏa thuận được, khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định tài sản chung “được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố…”, trong đó có hoàn cảnh của mỗi bên; công sức đóng góp vào việc tạo lập, duy trì và phát triển tài sản chung; lợi ích chính đáng trong hoạt động nghề nghiệp, sản xuất, kinh doanh; và lỗi của mỗi bên trong việc vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Riêng đối với công sức đóng góp, điểm b khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định: “Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn”.
Vì vậy, nếu một bên cho rằng mình có mức độ đóng góp lớn hơn và yêu cầu được chia phần tài sản nhiều hơn thì bên đó cần chứng minh được điều đó.
Song, cần lưu ý rằng công sức đóng góp không đồng nghĩa với mức thu nhập. Việc người chồng có mức lương cao hơn hoặc trực tiếp tạo ra phần lớn nguồn tiền của gia đình không đương nhiên có nghĩa là người chồng có công sức đóng góp nhiều hơn.
Khi đánh giá cần xem xét mối tương quan của cả lao động tạo ra thu nhập và lao động trong gia đình.
Đối với người vợ ở nhà chăm sóc con và gia đình, công sức đóng góp có thể được thể hiện qua thực tế phân công giữa hai vợ chồng; thời gian, phạm vi công việc gia đình đã đảm nhận; việc phải nghỉ việc hoặc hạn chế cơ hội nghề nghiệp để chăm sóc gia đình; cũng như những đóng góp khác trong việc quản lý, duy trì hoặc phát triển tài sản chung.
Do đó pháp luật không ấn định rằng trong mọi trường hợp mỗi bên đều đương nhiên nhận đúng 50% giá trị tài sản chung. Tuy nhiên, việc người trực tiếp kiếm được nhiều tiền hơn không phải là căn cứ duy nhất để xác định tỉ lệ phân chia.
Có thể bạn cần biết thêm, quyền được chia chỉ đặt ra đối với tài sản thuộc khối tài sản chung của vợ chồng.
Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình, tài sản do vợ, chồng tạo ra và thu nhập từ lao động, sản xuất, kinh doanh cùng các nguồn thu nhập hợp pháp khác phát sinh trong thời kỳ hôn nhân về nguyên tắc là tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc vợ chồng có thỏa thuận khác.
Vì vậy, nếu trong thời kỳ hôn nhân, từ tiền lương và thu nhập của chồng mà gia đình tích lũy được tiền tiết kiệm, mua nhà, đất, ô tô hoặc các tài sản khác thì những tài sản này không mặc nhiên được xem là tài sản riêng của chồng chỉ vì chồng là người trực tiếp kiếm ra tiền.
Nếu có tranh chấp về việc tài sản là chung hay riêng, tòa án sẽ xem xét căn cứ và chứng cứ của các bên theo nguyên tắc: nếu không có căn cứ chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng thì “tài sản đó được coi là tài sản chung”.
Mời bạn đọc gửi câu hỏi để được luật sư tư vấn

Đăng ký Tuổi Trẻ Sao TẠI ĐÂY
Với đội ngũ các luật sư và chuyên gia pháp lý dày dạn kinh nghiệm trên tất cả các lĩnh vực như hôn nhân - gia đình, kinh doanh - thương mại, mua bán đất đai, sở hữu trí tuệ, lao động, hộ tịch, thừa kế..., chuyên mục Tư vấn pháp luật trên Tuổi Trẻ Sao sẽ giải đáp thắc mắc của bạn một cách nhiệt tình, nhanh chóng, chính xác, hiệu quả.
Bạn đọc vui lòng gửi câu hỏi (gõ bằng tiếng Việt có dấu, font chữ UNICODE) về Tuổi Trẻ Sao qua địa chỉ tuvanphapluat@tuoitre.com.vn.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận