Trong 3 tuần đầu, H. vẫn liên lạc nhưng sau đó bắt đầu hứa hẹn và không trả tiền. Do không được thanh toán, tôi đã liên hệ một số bạn bè của H. để nhắc nhở việc trả nợ, đồng thời gửi kèm hình ảnh tin nhắn giữa tôi và H. làm bằng chứng.
Do quá bức xúc, tôi đã đăng bài lên trang Facebook cá nhân để phản ánh việc H. vay tiền nhưng không trả, tuy nhiên sau một ngày tôi đã xóa bài đăng đó. Sau đó H. chặn liên lạc với tôi.
Đến khoảng tháng 6-2025, tôi có liên hệ mẹ của H. để nhờ thông báo cho H. trả tiền nhưng phía gia đình nói không trả.
Từ tháng 6-2025 đến nay (tháng 3-2026), tôi không còn liên lạc hay tiếp tục đòi nợ nữa. Hiện tại tôi vẫn đang giữ căn cước công dân của H. từ lúc vay tiền.
Tôi có thể yêu cầu H. trả lại số tiền đã vay bằng cách nào theo quy định pháp luật? Trường hợp này tôi có thể trình báo công an hoặc khởi kiện dân sự được không?
Việc tôi đang giữ căn cước công dân của H. có vi phạm pháp luật không và cần xử lý thế nào?
- Luật sư Nguyễn Trọng Dần (Đoàn luật sư TP.HCM) trả lời:

Luật sư Nguyễn Trọng Dần
Theo dữ liệu bạn đưa ra thì hai bên xác lập hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi suất.
Như vậy theo quy định tại khoản 2 Điều 469 Bộ luật Dân sự 2015 thì bạn có quyền đòi lại tài sản vay bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý.
Thời gian hợp lý phải báo trước theo quy định do tòa án căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xem xét, quyết định nhưng không quá 3 tháng kể từ ngày thông báo.
Trường hợp của bạn có thể khởi kiện dân sự ra tòa án nơi H. cư trú theo địa chỉ cư trú trong căn cước công dân của H.
Tuy nhiên, về lãi suất của bạn cho vay quá cao (1,4 triệu đồng/tuần) trên số tiền gốc 7 triệu đồng. Mức lãi suất này vượt quá 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 2015, nên nếu khởi kiện dân sự ra tòa bạn cũng chỉ được yêu cầu mức lãi không vượt quá 20%/năm.
Bên cạnh đó, mức lãi suất này có thể bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về "Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015.
Theo quy định tại Điều 7 Luật Căn cước có hiệu lực từ ngày 1-7-2024, các hành vi bị nghiêm cấm gồm: giữ thẻ căn cước, giấy chứng nhận căn cước trái quy định pháp luật, cầm cố, nhận cầm cố thẻ căn cước, giấy chứng nhận căn cước.
Do đó hành vi của bạn giữ căn cước công dân của H. là trái pháp luật.
Ngoài ra mức phạt cũng rất nặng, có thể từ 8 triệu đến 10 triệu đồng, kèm theo có thể buộc tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc nộp lại thẻ căn cước công dân theo quy định tại Điều 11 Nghị định 282/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15-12-2025.
Bạn nên chủ động liên hệ lại với H. hoặc gia đình H. hoặc công an nơi H. đang cư trú theo địa chỉ trong căn cước công dân của H. để trả lại căn cước công dân cho H.
Mời bạn đọc gửi câu hỏi để được luật sư tư vấn

Đăng ký Tuổi Trẻ Sao TẠI ĐÂY
Với đội ngũ các luật sư và chuyên gia pháp lý dày dạn kinh nghiệm trên tất cả các lĩnh vực như hôn nhân - gia đình, kinh doanh - thương mại, mua bán đất đai, sở hữu trí tuệ, lao động, hộ tịch, thừa kế..., chuyên mục Tư vấn pháp luật trên Tuổi Trẻ Sao sẽ giải đáp thắc mắc của bạn một cách nhiệt tình, nhanh chóng, chính xác, hiệu quả.
Bạn đọc vui lòng gửi câu hỏi (gõ bằng tiếng Việt có dấu, font chữ UNICODE) về Tuổi Trẻ Sao qua địa chỉ tuvanphapluat@tuoitre.com.vn.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận