
Đến nay quân đội Mỹ không dùng vũ lực để mở lại eo biển Hormuz - Ảnh: THE CONVERSATION
Sau các cuộc tấn công của Mỹ và Israel nhằm vào Iran kể từ hôm 28-2, Tehran đã đáp trả bằng cách nhắm vào các tàu thương mại tại eo biển Hormuz và trên thực tế đã gần như đóng cửa tuyến đường vận chuyển khoảng 20% lượng dầu mỏ thế giới.
Điều này đã gây ra cuộc khủng hoảng nhiên liệu toàn cầu, dù một số tàu vẫn có thể đi qua eo biển. Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đưa ra tối hậu thư yêu cầu Iran mở lại hoàn toàn eo biển Hormuz, đồng thời kêu gọi các đồng minh trong Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) hỗ trợ.
Trên trang The Conversation ngày 27-3, chuyên gia hải quân Jennifer Parker - người từng phục vụ 20 năm trong Hải quân Hoàng gia Úc - giải thích cần loại lực lượng quân sự nào để mở lại eo biển Hormuz cho tàu thương mại và vì sao Mỹ chưa thực hiện bước đi này.
Chiến dịch để mở lại eo biển Hormuz
Yếu tố địa lý đóng vai trò quan trọng. Eo biển Hormuz có nơi hẹp nhất chỉ khoảng 33km, nằm giữa Iran và Oman.
Iran rõ ràng đang kiểm soát phần phía bắc của vịnh Ba Tư, eo biển Hormuz và vịnh Oman. Vị trí địa lý gần gũi này cho phép Iran sử dụng các vũ khí giá rẻ như thiết bị không người lái (drone) để tấn công tàu thuyền.
Để tạo điều kiện cho tàu thương mại đi lại an toàn, hoặc ít nhất giảm rủi ro, sẽ cần một chiến dịch gồm hai giai đoạn.
Giai đoạn 1 là vô hiệu hóa khả năng của Iran trong việc tấn công tàu thuyền. Có hai cách để làm điều này: Một là thuyết phục hoặc buộc Iran ngừng tấn công tàu thuyền; Hai là phá hủy năng lực tấn công của Iran bằng cách đánh vào hệ thống radar, cấu trúc chỉ huy và kiểm soát, cũng như các hầm chứa vũ khí dọc bờ biển.
Mỹ có năng lực không quân, tình báo, giám sát và trinh sát để xác định và phá hủy phần lớn các mục tiêu này. Tuy nhiên việc xác định vị trí và tiêu diệt số lượng lớn thiết bị không người lái của Iran sẽ khó hơn vì chúng có thể được cất giấu ở nhiều nơi, do đó tình báo sẽ đóng vai trò quan trọng trong trường hợp này.
Giai đoạn 2 là chiến dịch trấn an để đưa tàu thuyền quay lại eo biển, sau khi đã giảm rủi ro bằng chiến dịch ném bom. Điều này đòi hỏi triển khai máy bay cảnh báo sớm trên không và máy bay tuần tra hàng hải giám sát không chỉ eo biển Hormuz, mà còn cả vịnh Oman, vịnh Ba Tư và dọc bờ biển Iran.
Máy bay chiến đấu sẽ cần được bố trí trên eo biển. Các máy bay tuần tra chiến đấu trên không và trực thăng cần sẵn sàng triển khai để chống lại các cuộc tấn công. Còn trên biển, Mỹ cần bố trí các tàu chiến để hộ tống khi cần thiết.
Nếu phát hiện hoặc thậm chí nghi ngờ có thủy lôi trong eo biển Hormuz, tình hình sẽ phức tạp hơn. Mỹ sẽ phải tiến hành chiến dịch rà phá thủy lôi quy mô lớn và mất nhiều thời gian.
Lý do Mỹ hiện không dùng biện pháp quân sự để kiểm soát và bảo đảm an ninh cho eo biển Hormuz
Có 4 lý do chính khiến Mỹ không cố gắng kiểm soát và bảo đảm an ninh cho eo biển Hormuz bằng quân sự nếu chưa đạt được giai đoạn một (vô hiệu hóa khả năng của Iran trong việc tấn công tàu thuyền), và đó cũng là lý do tại sao chiến dịch quân sự đến nay chưa tập trung vào việc này
Thứ nhất, điều đó sẽ làm phân tán khí tài quân sự, chẳng hạn như máy bay, vốn đang cần thiết ở những nơi khác để thực hiện các mục tiêu trong chiến dịch quân sự của Tổng thống Donald Trump.
Thứ hai, để bảo đảm an toàn cho tàu thuyền qua lại eo biển Hormuz, thực tế cần phải bảo đảm an ninh cho không chỉ vùng biển mà cả vùng đất hai bên bờ. Điều này có thể đòi hỏi triển khai các lực lượng trên mặt đất - vốn phức tạp và rủi ro đối với quân đội Mỹ.
Thứ ba, việc bảo vệ tàu thuyền sẽ đòi hỏi triển khai số lượng lớn tàu hải quân. Trên thực tế, sẽ cần một hoặc hai tàu hải quân cho mỗi chiến dịch hộ tống. Một đoàn tàu lớn hơn có nguy cơ bị tấn công cao hơn, trừ khi Mỹ và Israel đã làm giảm đáng kể khả năng của Iran trong việc tấn công các tàu này.
Thứ tư, quân đội Mỹ cần cân nhắc giữa rủi ro đối với tài sản của mình và lợi ích của việc mở cửa eo biển Hormuz. Một tàu chiến của Mỹ có thủy thủ đoàn hơn 200 người. Với khả năng của Iran trong việc tấn công tàu thuyền bằng xuồng không người lái, máy bay không người lái và tên lửa hành trình, liệu có đáng để đặt những quân nhân này vào nguy hiểm trước khi giảm bớt các mối đe dọa từ bờ biển Iran?

Vị trí vịnh Ba Tư, eo biển Hormuz và vịnh Oman. Chấm đỏ là nơi các cuộc tấn công vào tàu thuyền được ghi nhận - Ảnh: THE CONVERSATION
Thủy lôi và drone của Iran
Thủy lôi đặt ra thách thức lớn. Iran thậm chí không cần trực tiếp rải thủy lôi, mà chỉ cần làm cho Mỹ và các bên khác tin rằng họ đã làm vậy. Điều này cũng đủ để ngăn các tàu dân sự đi qua eo biển Hormuz.
Đôi khi thủy lôi có thể nổi trên mặt nước và có thể nhìn thấy được. Tuy nhiên thường thì thủy lôi chìm hoặc neo dưới nước, nên khó phát hiện hơn. Mỹ sẽ cần cử thợ lặn hoặc các phương tiện điều khiển từ xa để loại bỏ chúng. Việc này mất nhiều tuần hoặc thậm chí nhiều tháng.
Tuy nhiên khả năng Iran rải thủy lôi trên diện rộng là thấp, một phần vì kinh tế Iran phụ thuộc vào việc vận chuyển dầu mỏ từ đảo Kharg ở vịnh Ba Tư qua eo biển Hormuz. Ngoài ra, Mỹ có các nguồn lực tình báo đáng kể cùng các hệ thống giám sát và trinh sát dọc theo bờ biển Iran, nên có thể phát hiện hoạt động rải thủy lôi.
Về drone, Iran sử dụng cả máy bay không người lái và xuồng không người lái. Chúng khó bị phát hiện và tiêu diệt hơn so với tên lửa. Tuy vậy, Mỹ vẫn có thể ném bom các điểm phóng và kho drone dọc bờ biển của Iran để ngăn chặn một số cuộc tấn công vào tàu thuyền.
Ưu tiên hàng đầu của Mỹ tại Iran là gì?
Mặc dù có nhiều tranh luận về việc thay đổi chế độ, đến nay chính quyền ông Trump đã nêu rõ 4 mục tiêu quân sự chính của mình, đó là phá hủy: (1) Năng lực tên lửa đạn đạo của Iran; (2) năng lực hạt nhân của Iran; (3) lực lượng hải quân Iran; (4) các mạng lưới ủy nhiệm của Iran, gồm cả nhóm vũ trang Hezbollah ở Lebanon.
Việc phá hủy năng lực hạt nhân và tên lửa đạn đạo của Iran đòi hỏi Mỹ triển khai số lượng lớn máy bay và vũ khí. Việc điều chuyển các nguồn lực này để kiểm soát và bảo đảm an ninh cho eo biển Hormuz có thể làm suy yếu việc đạt được các mục tiêu quân sự nói trên.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận