Nhiễm vi khuẩn H. pylori có thể gây ung thư dạ dày, phòng lây nhiễm thế nào?

'Qua thực tế thăm khám, chúng tôi gặp không ít người bệnh rơi vào trạng thái lo lắng khi kết quả nội soi ghi: viêm teo niêm mạc, dị sản ruột hoặc loạn sản có liên quan đến vi khuẩn H. pylori'.

Nhiễm vi khuẩn H. pylori có thể gây ung thư dạ dày, phòng lây nhiễm thế nào? - Ảnh 1.

GS.TS Trần Thiện Trung trong một ca mổ ung thư dạ dày tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM - Ảnh: Bác sĩ cung cấp

Nỗi lo này càng tăng lên khi được giải thích rằng đây là các thương tổn tiền ung thư dạ dày.

Tuổi Trẻ Online xin giới thiệu ý kiến của GS.TS Trần Thiện Trung về mối liên quan và cách phòng bệnh.

Mối liên quan giữa H. pylori và ung thư dạ dày

Viêm dạ dày do nhiễm vi khuẩn H. pylori có thể đưa đến viêm teo niêm mạc, dị sản ruột, loạn sản.

Đây là yếu tố nguy cơ quan trọng của ung thư dạ dày, đặc biệt là ở những chủng H. pylori có biểu hiện với gene cagA và vacA-dương tính, trong đó gene vacA m1 có liên quan đến mức độ biệt hóa của ung thư, đến viêm teo niêm mạc và dị sản ruột trên người bệnh Việt Nam ở khu vực phía Nam và TP.HCM.

Vi khuẩn H. pylori được Robin Warren và Barry Marshall tìm ra tại Perth, phía Tây Úc vào tháng 4-1982, kể từ đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vi khuẩn này gây bệnh trên người. 

Ngày 3-10-2005, sau 23 năm phát hiện vi khuẩn H. pylori, hai giáo sư người Úc là Robin Warren và Barry Marshall được trao giải Nobel Y học và Sinh lý học vì đã có những khám phá to lớn cho khoa học về vi khuẩn H. pylori gây bệnh viêm dạ dày, loét dạ dày - tá tràng và ung thư dạ dày.

Năm 1994, Tổ chức Quốc tế nghiên cứu về ung thư (IARC: International Agency for Research on Cancer), và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xếp H. pylori là nguyên nhân hàng đầu hay là nhóm 1 gây ung thư biểu mô tuyến dạ dày.

Theo phân loại viêm dạ dày của hệ thống Sydney (1990) và Sydney cập nhật (1994) tại Houston, Texas, Hoa Kỳ, cập nhật các tiêu chuẩn về sự phân chia các mức độ và các thương tổn của viêm dạ dày có hoặc không kèm theo viêm teo niêm mạc cũng như các thương tổn “tiền ung thư” khác như: dị sản ruột/chuyển sản ruột (intestinal metaplasia) và loạn sản/nghịch sản (dysplasia).

Các thương tổn trên được coi là tiền ung thư nhưng không phải tất cả đều gây bệnh ung thư dạ dày. Trên thế giới, liên quan giữa bệnh nhân có dị sản ruột hay chuyển sản thì nguy cơ ung thư dạ dày sẽ tăng lên gấp 6 -10 lần. Tại Việt Nam, tỉ lệ này là 5,3 lần.

Về chẩn đoán các thương tổn tiền ung thư dạ dày cần phải dựa trên mô bệnh học niêm mạc dạ dày (giải phẫu bệnh), nội soi chỉ có tính gợi ý quan sát. Vì vậy ghi chẩn đoán các thương tổn trên ở đơn thuốc ngay sau khi nội soi dạ dày là chưa chính xác, điều đó làm cho người bệnh thêm lo lắng, hoang mang.

Điều trị tiệt trừ H. pylori thành công có thể ngăn ngừa được sự tiến triển thành ung thư dạ dày, các thương tổn viêm teo niêm mạc, tiền ung thư đều giảm, và có khả năng phục hồi bình thường của niêm mạc dạ dày.

Tuy nhiên đối với ung thư dạ dày, một vấn đề quan trọng đặt ra cho đến nay là còn chưa biết rõ tiến trình viêm teo niêm mạc - dị sản ruột - loạn sản - ung thư dạ dày xảy ra khi nào, vào thời điểm nào, và sau khi điều trị tiệt trừ H. pylori thì có thay đổi, đảo ngược được tiến trình này hay không? Có thể phòng ngừa hoàn toàn được ung thư dạ dày hay không?

Vì vậy cần có những nghiên cứu tiếp tục theo nhiều hướng khác nhau, và người bệnh cần phải được theo dõi lâu dài để làm sáng tỏ thời điểm, nguồn gốc phát sinh cũng như các điều kiện để viêm dạ dày tiến triển thành các thương tổn tiền ung thư và ung thư dạ dày như đã được biết đến trong những nghiên cứu của các thập kỷ qua.

Nhiễm vi khuẩn H. pylori có thể gây ung thư dạ dày, phòng lây nhiễm thế nào? - Ảnh 2.

Dọn riêng nước chấm cho từng người là một trong những cách phòng bệnh - Ảnh minh họa

Phòng nhiễm H. pylori từ thói quen ăn uống

Cách ăn uống đúng cách có vai trò quan trọng trong phòng bệnh, vì phòng bệnh hiệu quả hơn chữa bệnh. Với các bệnh dạ dày, mục tiêu chữa trị không chỉ là hết triệu chứng mà còn giúp người bệnh ăn uống trở lại bình thường.

Để làm được điều này, mỗi gia đình từ ông bà, cha mẹ đến con cháu cần biết và quyết tâm thay đổi thói quen ăn uống. Vì dùng đũa, muỗng (thìa) của mình đang ăn để lấy/gắp thức ăn chung hoặc lấy thức ăn cho người khác, uống chung... là nguồn lây bệnh chủ yếu.

Tùy điều kiện sinh hoạt, có thể áp dụng cách ăn uống phù hợp nhằm hạn chế nguy cơ lây nhiễm và tái nhiễm vi khuẩn H. pylori.

- Cách thứ nhất: Dọn mỗi người một phần ăn riêng hoặc một khay ăn riêng như ở Pháp, Nhật Bản..., và gần đây đang được áp dụng tại Việt Nam.

- Cách thứ hai: Ngồi ăn chung, mỗi người một chén nước chấm riêng, mỗi món ăn có muỗng chung, đũa chung để lấy thức ăn, không dùng đũa/muỗng mình đang ăn gắp/lấy thức ăn.

- Cách thứ ba: Cách ăn ở một số nơi là dùng đũa gắp/lấy thức ăn chung, và dùng muỗng/thìa của mình để ăn.

- Cách thứ tư: Cách ăn dọn từng món của người Pháp và các nước tiên tiến gần đây được dùng trong các nhà hàng Việt Nam.

- Cách thứ năm: Khi ăn chung, gắp thức ăn chung, phải trở đầu đũa hay còn gọi là “ăn đũa hai đầu”.

Bên cạnh đó, sinh hoạt ăn uống điều độ, đúng giờ. Ăn uống đủ chất dinh dưỡng, thức ăn rau sống rửa không sạch, nên nấu chín. Ăn nhiều rau xanh, trái cây, hạn chế ăn mặn, thịt cá ướp muối, hun khói, thực phẩm được bảo quản bằng nitrat…

Trong khi điều trị ở giai đoạn viêm dạ dày cấp, có thể hạn chế các thức ăn cay, chua. Sau điều trị cần cho người bệnh ăn uống bình thường.

Nhiễm vi khuẩn H. pylori có thể gây ung thư dạ dày, phòng lây nhiễm thế nào?   - Ảnh 2.Lo sợ khi trẻ nhiễm vi khuẩn HP

TT - Khi phát hiện trẻ nhiễm vi khuẩn HP, các bậc cha mẹ đưa trẻ đến cơ sở y tế để nhờ bác sĩ diệt tận gốc con HP này. Lý do khiến các bậc cha mẹ sợ vì họ lo HP gây viêm, loét, ung thư dạ dày.

Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất