
Bên trong kho lạnh phục vụ trái cây xuất khẩu do doanh nghiệp Việt đầu tư - Ảnh: C.TRUNG
Xuất khẩu rau quả năm 2025 đạt kỷ lục 8,5 tỉ USD. Việt Nam xuất khẩu chuối lớn thứ chín toàn cầu, dừa cũng xuất hàng đầu thế giới. Nhưng điểm yếu vẫn còn đó.
Ngành trái cây Việt thiếu "vùng đệm"
Theo ông Ju Liang - Đại học Nông nghiệp Vân Nam, cuộc khủng hoảng sầu riêng năm ngoái là một bài học đau xót và đầy tính gợi mở.
Một lượng lớn sầu riêng được vận chuyển bằng xe tải từ miền Nam ra tận Hà Nội, nơi nông dân phải bán lẻ trên vỉa hè với giá cực thấp.
Nhiều người nói lỗi ở các yếu tố bên ngoài, quốc gia khác giảm nhập khẩu. Tuy nhiên vấn đề thực sự sâu xa hơn.
Ông Ju Liang cho rằng một mặt có những bất cập trong truy xuất nguồn gốc; mặt khác và quan trọng hơn, ngành trái cây Việt Nam đang thiếu một "vùng đệm" thiết yếu: hệ thống kho lạnh chuyên nghiệp, hiện đại cho trái cây tươi.
Theo dữ liệu ngành, Việt Nam chỉ có khoảng 117 kho lạnh chuyên nghiệp trên toàn quốc, gần 90% trong số đó được thiết kế cho thịt và hải sản đông lạnh.
Có rất ít cơ sở kiểm soát nhiệt độ phù hợp cho sầu riêng, măng cụt, mãng cầu và thanh long. Ngay cả tại Đồng Nai và Bình Dương, kho lạnh tại nguồn vẫn hiếm hoi.
Hiếm có các kho lạnh quy mô lớn chuyên dụng cho trái cây, theo ông Ju Liang, đây là một sự tương phản rõ rệt với quê hương Chu Chí ở Trung Quốc của ông.
Chu Chí (Zhouzhi), trung tâm quả kiwi của Trung Quốc, có hơn 3.000 kho lạnh trái cây chuyên nghiệp chỉ trong một huyện. Tại đây việc xây dựng và vận hành kho lạnh không phải là một khoản chi phí - đó là một ngành kinh doanh có lãi.
Phí lưu kho ở đây rất thấp từ 0,2-0,6 nhân dân tệ (NDT)/kg mỗi tháng cho kho lạnh tiêu chuẩn, tương đương 800-2.400 đồng/kg/tháng. Ngay cả khi lưu kho 3-4 tháng, chi phí cũng chưa đến 2 NDT/kg, tương đương dưới 8.000 đồng/kg.
Giúp nông dân đỡ "được mùa, mất giá"
Ông Ju Liang nhấn mạnh với những loại trái cây giá trị cao như sầu riêng và măng cụt, khoản chi phí kể trên cho phép nông dân trì hoãn việc bán hàng cho đến các giai đoạn cao điểm như Tết Nguyên đán, không chỉ tránh "được mùa mất giá" mà còn giúp thu về lợi nhuận cao.
Trong khi đó tại Trung Quốc, một kho lạnh chuyên dụng 500m3 (không tính tiền đất) có thể được xây dựng với khoảng 1 triệu NDT (tương đương khoảng 4 tỉ đồng).
"Dù việc xây dựng kho lạnh tại miền Nam nóng bức có thể tốn kém do chi phí năng lượng và bảo trì cao, Việt Nam có thể tận dụng các TP biên giới phía Bắc như Lạng Sơn để phát triển các trung tâm kho lạnh cấp quốc gia.
Nằm gần các cửa khẩu đường bộ chính sang Trung Quốc, những cơ sở này có thể vừa đóng vai trò dự trữ chiến lược vừa là trung tâm kiểm soát chất lượng trước khi xuất khẩu, giúp giảm chi phí vận hành một cách hiệu quả, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của trái cây Việt tại Trung Quốc", ông Ju Liang nói.
Việt Nam cũng có thể học hỏi từ Chile và Nam Phi, những quốc gia sử dụng kho lạnh hiện đại để điều phối thời điểm xuất khẩu, giảm thiểu ùn tắc tại biên giới và duy trì quyền định giá.
Sau hơn 20 năm sống và gắn bó sâu sắc với Việt Nam, ông Ju Liang nhấn mạnh: tôi chân thành tin rằng xây dựng chuỗi cung ứng lạnh tại nguồn không chỉ là vấn đề hạ tầng - đó là chìa khóa để ổn định giá cả, bảo vệ nông dân và biến điểm yếu thành thế mạnh cho ngành trái cây Việt Nam.
"Nỗi khổ kho lạnh" nhìn từ doanh nghiệp Việt
Ông Nguyễn Hoàng Hải - Phó chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần kho lạnh Kỷ Nguyên Mới (NECS) - cho rằng lâu nay thị trường thường chỉ nhìn thấy các kho lạnh phục vụ thủy sản, thịt, hải sản, trong khi thực tế vẫn tồn tại nhiều kho dành cho nông sản.
Tuy nhiên phần lớn là kho truyền thống, quy mô nhỏ, công nghệ hạn chế. Không ít kho còn để chung nhiều loại hàng hóa, dẫn đến tình trạng "nhiễm chéo" trái cây bị ám mùi thủy sản, ảnh hưởng chất lượng xuất khẩu.
NECS đã xây dựng hệ thống kho lạnh hơn 2.000 tỉ đồng, vận hành theo mô hình tự động hóa, sử dụng robot, hệ thống giá kệ thông minh và nền tảng quản lý tích hợp IoT, AI.
Đáng chú ý, khu kho ngoại quan lạnh số tại NECS là mô hình đầu tiên được cơ quan hải quan cấp phép triển khai, cho phép doanh nghiệp chưa phải nộp thuế khi đưa hàng vào lưu trữ, chỉ thực hiện nghĩa vụ khi xuất hàng.
So với kho truyền thống, mô hình kho lạnh số cho phép xây dựng hệ thống kệ cao tới 20 tầng, duy trì nhiệt độ ổn định và giảm phụ thuộc lao động thủ công. Hàng hóa được phân khu riêng biệt, hạn chế rủi ro suy giảm chất lượng.
Ông Hải xác nhận nhu cầu nâng cấp chuỗi lạnh không chỉ là yêu cầu nội tại mà còn là điều kiện để tham gia sâu hơn vào thị trường xuất khẩu.
Tuy vậy, "điểm yếu không chỉ ở kho mà còn ở khâu trước kho. Nông sản muốn vào chuỗi lạnh phải được đóng gói, xử lý đạt chuẩn ngay từ đầu, trong khi đây lại là mắt xích chúng ta còn yếu" - ông Hải nói.

Vận chuyển các lô hàng trái cây tươi về cảng quốc tế Chu Lai để xuất khẩu - Ảnh: THILOGI
Thiếu kho lạnh, nông sản mất quyền định giá
Những xe tải chở đầy trái cây nằm chờ giữa trưa nắng 35oC để "đợi giá" là hình ảnh quen thuộc mỗi mùa thu hoạch. Đó là dấu hiệu của một điểm nghẽn kéo dài nhiều năm trong chuỗi cung ứng nông nghiệp thiếu hạ tầng bảo quản ngay từ nguồn.
Theo ông Lương Quang Thi - CEO ABA Cooltrans, "lời nguyền vỉa hè" ấy bắt nguồn từ việc nông sản Việt không có "vùng đệm" sau thu hoạch.
Trái cây, rau củ sau khi hái chỉ có một khoảng thời gian rất ngắn để được hạ nhiệt và bảo quản. Nếu không, chất lượng giảm nhanh theo từng giờ, buộc nông dân phải bán gấp, bán rẻ. Khi đó quyền định giá gần như nằm hoàn toàn trong tay người mua.
Nghịch lý nằm ở chỗ Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản lớn nhưng giá trị thu về vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực. Tỉ lệ tổn thất sau thu hoạch hiện dao động 20-40% tương đương 3,5-4,1 tỉ USD mỗi năm, theo ông Thi, một "khoản chi phí vô hình" mà toàn ngành đang phải gánh.
Trong khi đó, hạ tầng chuỗi lạnh vẫn phát triển chậm. Cả nước chỉ có hơn 117 kho lạnh chuyên nghiệp, phần lớn phục vụ đông lạnh sâu cho thủy sản và thịt. Kho mát dành cho trái cây tươi là yếu tố then chốt để giữ chất lượng xuất khẩu gần như còn thiếu hụt. Điều này khiến nông sản khó kéo dài thời gian bảo quản, không thể chủ động điều tiết cung cầu hay chờ thời điểm giá tốt.
Điểm đáng chú ý, theo ông Thi, chi phí lưu trữ hiện không phải là rào cản lớn nhất. Mức phí kho lạnh phổ biến chỉ khoảng 20 đồng/kg/ngày, tương đương 6.000 đồng/kg/tháng, khá thấp so với giá trị nhiều loại nông sản. Nhưng vấn đề là hạ tầng này chưa được tổ chức thành một hệ thống đủ rộng, đủ gần vùng trồng và đủ dễ tiếp cận với nông dân, hợp tác xã.
Trong khi đó, Trung Quốc quy hoạch đồng bộ từ vùng trồng đến hạ tầng kho lạnh, đồng thời hỗ trợ nông dân ở khâu bảo quản, lưu trữ sau thu hoạch. Nhờ vậy nông sản không buộc phải bán ngay sau khi thu hoạch.
Thái Lan cũng phát triển mạnh mô hình kho mát tại vườn, cho phép sơ chế và làm lạnh ngay sau thu hoạch, đồng thời chuẩn hóa chất lượng để xuất khẩu. Ấn Độ dùng ngân sách nhà nước để hỗ trợ một phần chi phí đầu tư hạ tầng chuỗi lạnh, qua đó thu hút doanh nghiệp tư nhân tham gia.
Tại Việt Nam, theo ông Thi, rào cản lớn nhất hiện nằm ở chính sách. Chi phí điện chiếm tới 30-40% chi phí vận hành nhưng kho lạnh vẫn phải áp giá điện kinh doanh. Quỹ đất cho logistics nông nghiệp chưa được quy hoạch riêng. Kho lạnh khó tiếp cận nguồn vốn dài hạn phù hợp chu kỳ hoàn vốn.
Theo các doanh nghiệp trong ngành, cần ba đòn bẩy chính: quy hoạch đất logistics chuyên biệt tại vùng trồng; áp dụng giá điện sản xuất cho kho lạnh; có gói tín dụng dài hạn cho hạ tầng chuỗi lạnh. Bên cạnh đó là việc chuẩn hóa tiêu chuẩn bảo quản và truy xuất nguồn gốc ngay từ khâu sơ chế.
"Mất một vụ mùa, nông dân thiệt một năm. Nhưng chậm đầu tư chuỗi lạnh, ngành nông sản có thể mất quyền định giá trong cả một thế hệ", ông Lương Quang Thi nhấn mạnh.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận