
Quảng Ngãi có diện tích rừng khổng lồ - Ảnh: HÀ NGUYÊN
Với hơn 825.800ha rừng, Quảng Ngãi có "mỏ vàng xanh" khổng lồ với dư địa phát triển tín chỉ carbon cực lớn, nhưng để biến lợi thế rừng thành nguồn thu, tỉnh cần hoàn thiện dữ liệu, xây dựng dự án và đáp ứng các tiêu chuẩn công nhận.
Dư địa lớn từ "vàng xanh" với gần 826.000ha rừng
Rừng không chỉ bảo vệ hệ sinh thái, điều tiết nguồn nước mà còn hấp thụ, lưu giữ carbon, góp phần giảm phát thải khí nhà kính. Khi được đo đạc, đánh giá và công nhận theo quy định, giá trị này có thể tạo thêm nguồn lực cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi, địa phương hiện có 825.851,24ha rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm 603.996,71ha, rừng trồng 221.854,53ha.
Ông Nguyễn Văn Nam, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi, cho biết theo cách tính được Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm hướng dẫn, rừng trên địa bàn tỉnh hấp thụ, lưu giữ khoảng 2 triệu tấn carbon mỗi năm.
Tỉnh cũng đang tham gia Chương trình giảm phát thải khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên theo sáng kiến LEAF, với lượng tín chỉ dự kiến phân bổ khoảng 1,13 triệu.
Đây là cơ hội để Quảng Ngãi tiếp cận các nguồn tài chính gắn với giảm phát thải. Tuy nhiên, lượng carbon hấp thụ, lưu giữ ước tính không đồng nghĩa với số tín chỉ đã được cấp và có thể giao dịch. Muốn tạo ra nguồn thu, các dự án phải đáp ứng yêu cầu về phương pháp tính toán, tiêu chuẩn áp dụng, đánh giá và xác minh kết quả.
Tỉnh định hướng phát triển carbon rừng theo hai hướng. Thứ nhất là tăng cường quản lý, bảo vệ rừng bền vững, hạn chế cháy rừng, suy thoái rừng và áp dụng biện pháp xử lý thực bì phù hợp trong quá trình trồng rừng. Thứ hai là xây dựng các dự án thí điểm theo tiêu chuẩn trong nước hoặc quốc tế để đánh giá khả năng tạo tín chỉ từ hoạt động bảo vệ, phục hồi và phát triển rừng.

Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi, địa phương hiện có 825.851,24ha rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm 603.996,71ha, rừng trồng 221.854,53ha - Ảnh: TRẦN MAI
Kiểm kê rừng, xây dựng dự án thí điểm
Để hiện thực hóa tiềm năng, một trong những yêu cầu quan trọng là có dữ liệu đáng tin cậy về diện tích, hiện trạng và đặc điểm từng loại rừng. Đây là cơ sở xác định trữ lượng carbon, theo dõi biến động rừng và đánh giá kết quả giảm phát thải.
Hiện Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi đang triển khai điều tra, kiểm kê rừng theo chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và UBND tỉnh. Kết quả dự kiến được công bố trong năm 2027.
Theo ông Nam, số liệu điều tra, kiểm kê là nền tảng để xác định trữ lượng carbon, giúp địa phương đánh giá tiềm năng từng khu vực, lựa chọn phương pháp phù hợp và xây dựng dự án.
Song song đó, Quảng Ngãi phối hợp với Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thúc đẩy xây dựng các dự án carbon rừng thí điểm tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đăk Tô, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Kon Rẫy và Ban Quản lý rừng phòng hộ Đăk Hà.
Các khu vực được lựa chọn dựa trên quy mô diện tích rừng, đất rừng và sự đa dạng về kiểu, trạng thái rừng. Theo ông Nam, tiêu chí gồm diện tích rừng lớn, có nhiều kiểu rừng như rừng lá rộng thường xanh, rừng lá kim, rừng trồng; trạng thái phong phú từ rừng giàu, rừng trung bình đến rừng nghèo và nghèo kiệt.
Việc thí điểm giúp đánh giá điều kiện thực tế, kiểm nghiệm phương pháp xác định carbon và xác định những yêu cầu cần đáp ứng trước khi mở rộng. Tuy nhiên, từ xây dựng dự án đến phát hành tín chỉ là một quá trình đòi hỏi đo đạc, báo cáo, thẩm định, xác minh kết quả và đáp ứng các tiêu chuẩn của chương trình được lựa chọn.

Quảng Ngãi đang có "mỏ vàng xanh" rất lớn - Ảnh: HÀ NGUYÊN
Tạo nguồn thu phải đi đôi với giữ rừng
Nghị định 180/2026/NĐ-CP của Chính phủ về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, có hiệu lực từ ngày 15-7-2026, tạo thêm cơ sở pháp lý cho việc triển khai các hoạt động liên quan.
Các dự án có thể gắn với việc hạn chế mất rừng, suy thoái rừng; bảo tồn, nâng cao trữ lượng carbon; quản lý rừng bền vững; trồng và phục hồi rừng. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon phải đáp ứng các điều kiện theo quy định, không phải cứ có diện tích rừng là có thể bán tín chỉ.
Theo ông Nam, để chuyển tiềm năng thành giá trị kinh tế, Quảng Ngãi cần hoàn thiện dữ liệu và cơ sở pháp lý, lựa chọn dự án, thiết kế hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định, xác minh kết quả (MRV), huy động nguồn lực, đăng ký và triển khai dự án, sau đó thực hiện các bước xác minh, công nhận và giao dịch tín chỉ.
Bên cạnh yêu cầu kỹ thuật, việc phát triển tín chỉ carbon phải gắn với trách nhiệm bảo vệ rừng lâu dài. Cháy rừng, mất rừng và suy thoái rừng có thể ảnh hưởng đến kết quả giảm phát thải, khả năng duy trì lượng carbon đã được ghi nhận và hiệu quả của dự án.
Cơ chế thực hiện cũng cần minh bạch trong quản lý nguồn thu, phân chia lợi ích giữa các bên, bảo đảm quyền lợi của chủ rừng và cộng đồng tham gia bảo vệ rừng. Khi người dân được hưởng lợi hợp lý, nguồn thu từ carbon có thể trở thành động lực để cộng đồng gắn bó với rừng và nâng cao hiệu quả bảo vệ tài nguyên.
Với gần 826.000ha rừng, Quảng Ngãi có lợi thế để phát triển tín chỉ carbon, nhưng hiệu quả kinh tế còn phụ thuộc vào lượng giảm phát thải được công nhận, chi phí triển khai và điều kiện giao dịch. Biến "vàng xanh" thành nguồn thu vì vậy không chỉ là câu chuyện khai thác giá trị mới từ rừng, mà còn là quá trình xây dựng cơ chế để lợi ích kinh tế song hành với bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận