
Ông Đỗ Thanh An (trái) dành cả một đời để đi tìm lời giải cho cái chết oan ức của mẹ - Ảnh: Tư liệu TTO
Quyền được Nhà nước bồi thường là quyền có tính chất hiến định, được ghi nhận xuyên suốt trong các bản Hiến pháp của Việt Nam và tiếp tục được khẳng định tại Hiến pháp năm 2013.
Thể chế hóa nguyên tắc này, Nhà nước đã từng bước hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường, từ Nghị định số 47-CP năm 1997, Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 đến Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.
Sau gần 8 năm thi hành, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã trở thành công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hoạt động công vụ gây ra; đồng thời khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trước nhân dân và góp phần củng cố niềm tin vào pháp luật.
Những "khoảng trống" cần bổ sung, sửa đổi
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng luật này cho thấy một số khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi.
Thứ nhất, về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
Từ Điều 8 đến Điều 12 của luật hiện hành quy định tương đối đầy đủ các văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường.
Tuy nhiên thực tế xuất hiện trường hợp người bị thiệt hại đã có kết luận tố cáo đúng hoặc kết luận thanh tra xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, nhưng cá nhân vi phạm không bị xử lý kỷ luật hoặc xử lý hành chính do hết thời hiệu hoặc chưa đến mức xử lý.
Hệ quả là người bị thiệt hại không có văn bản thuộc diện luật quy định để làm căn cứ yêu cầu bồi thường. Do đó cần nghiên cứu bổ sung kết luận giải quyết tố cáo hoặc kết luận thanh tra theo quy định pháp luật xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ là một trong các căn cứ phát sinh quyền yêu cầu bồi thường.
Thứ hai, về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Các Điều 17 đến Điều 21 luật hiện hành quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường theo hướng liệt kê. Tuy nhiên thực tiễn phát sinh nhiều trường hợp có hành vi trái pháp luật và có thiệt hại thực tế nhưng không thuộc diện được bồi thường.
Ví dụ: Luật quy định trách nhiệm bồi thường đối với việc cấp hoặc thu hồi giấy phép trái pháp luật, nhưng chưa quy định trường hợp hủy bỏ giấy phép trái pháp luật; hoặc quy định trách nhiệm đối với cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái pháp luật nhưng chưa điều chỉnh trường hợp không cấp giấy chứng nhận trái pháp luật.
Cần bổ sung cơ chế bồi thường trong trường hợp đặc biệt
Đặc biệt, cần nghiên cứu bổ sung cơ chế bồi thường trong trường hợp đặc biệt khi công lý không còn khả năng được thực hiện do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thực tiễn đặt ra những vụ việc mà người bị hại hoặc thân nhân chịu thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng nhưng cuối cùng không thể xử lý hình sự vì hết thời hiệu, trong khi quá trình giải quyết kéo dài có dấu hiệu gắn với trách nhiệm của cơ quan bảo vệ pháp luật.
Trường hợp ông Đỗ Thanh An tại Bình Thuận (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng) mà báo Tuổi Trẻ nhiều lần phản ánh là một ví dụ được dư luận quan tâm. Theo thông tin được báo phản ánh, gia đình nạn nhân nhiều năm cung cấp tài liệu, liên tục kiến nghị làm rõ cái chết của người mẹ. Tuy nhiên vụ việc kéo dài qua nhiều giai đoạn, đến khi xác định được đối tượng thì phát sinh vấn đề hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Từ thực tiễn đó, câu hỏi pháp lý được đặt ra không chỉ là còn hay không còn thời hiệu xử lý hình sự, mà còn là: Ai chịu trách nhiệm đối với những tổn thất vật chất và tinh thần kéo dài của gia đình người bị hại khi công lý không thể thực hiện được bằng bản án?
Trong khi đó, Hiến pháp năm 2013 quy định Nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; quyền sống được pháp luật bảo hộ. Vì vậy, bảo vệ quyền tiếp cận công lý không chỉ dừng lại ở việc thiết lập chế tài hình sự mà còn cần cơ chế khắc phục khi quyền đó không được bảo vệ hữu hiệu.
Đề xuất này không đồng nghĩa mở rộng vô hạn trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Cơ chế đặc biệt chỉ nên áp dụng khi đồng thời đáp ứng các điều kiện: thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng; có căn cứ cho thấy quá trình giải quyết vụ án kéo dài bất hợp lý hoặc có phần trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng; việc hết thời hiệu làm mất cơ hội phục hồi quyền lợi chính đáng của người bị hại.
Trong quá trình thảo luận chính sách sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật, nhưng đồng thời khẳng định Quốc hội vẫn là cơ quan có thẩm quyền quyết định cuối cùng đối với những trường hợp đặc biệt phát sinh từ thực tiễn. Đó là một gợi mở đáng suy ngẫm: Pháp luật cần ổn định nhưng không nên khép kín trước những hoàn cảnh đặc biệt của đời sống.
Vì vậy, luật sửa đổi nên bổ sung trường hợp đặc biệt: Nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho thân nhân người bị thiệt hại trong vụ án hình sự bị đình chỉ do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội như vụ án ông Đỗ Thanh An cả đời đi tìm công lý sau cái chết của mẹ.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận