25/03/2026 11:00 GMT+7

Xuôi sông Nile mà nhớ Việt Nam

Một ngày mùa xuân tôi đáp chuyến bay tới Aswan, miền nam Ai Cập, để xuôi dòng sông Nile. Với tôi, sông Nile không chỉ là dòng chảy mà là một 'cuốn biên niên sử bằng nước' xuyên qua sa mạc.

sông nile - Ảnh 1.

Hoàng hôn trên sông Nile

Chọn khởi hành từ Aswan tới Luxor, dù dài ngày hơn một chút nhưng tôi khám phá dòng sông thong thả hơn.

Bắt đầu hành trình bằng một chiếc Felucca truyền thống, loại thuyền buồm trắng chỉ có trên sông Nile, chúng tôi xuôi về hướng làng Nubia, ngắm hình ảnh những đứa trẻ tắm sông và những đàn cò trắng bay lượn.

Tất cả giống các bức bích họa trong lăng mộ cổ và cũng giống cả hình ảnh con sông quê hương trong ký ức của tôi.

Nile là dòng sông duy nhất mà ánh sáng cũng trở thành di sản.

UNESCO

Chiếc thuyền Felucca và sắc màu Nubia

Con thuyền trôi qua những rừng cọ và tàn tích cổ xưa, tôi đã rất ngạc nhiên trước vẻ đẹp và sự thanh bình của dòng sông là huyết mạch của Ai Cập trong nhiều thiên niên kỷ. Các ngôi làng Nubia nằm chủ yếu bờ tây sông Nile, gần thành phố Aswan và các hòn đảo Elephantine, Gharb Soheil.

Những ngôi nhà ở đây được làm từ gạch bùn với các mái vòm cong để chống lại cái nóng sa mạc. Điều thu hút nhất của các làng Nubia là họ sơn các công trình bằng các gam màu tươi sáng và rực rỡ. Người dân tin rằng màu sắc này mang lại sự may mắn, hạnh phúc và mùa màng bội thu.

Vào thập niên 1950, Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser quyết định xây dựng đập cao Aswan để kiểm soát lũ lụt sông Nile, cung cấp điện và mở rộng đất canh tác. Tuy nhiên cái giá phải trả là sự hình thành hồ nhân tạo Nasser khổng lồ nhấn chìm vùng Nubia. Nhiều làng Nubian đã bị ngập, buộc dân phải tái định cư.

Hơn 100.000 người Nubia ở cả Ai Cập và Sudan phải rời ngôi nhà tổ tiên hàng ngàn năm tuổi của mình để nhường chỗ chứa nước cho hồ Nasser. Họ không chỉ mất nhà mà mất đi sự kết nối tâm linh với sông Nile. Các nghĩa trang, đất canh tác màu mỡ và các di tích lịch sử chưa kịp khai quật đều bị nhấn chìm.

Tuy vậy, người Nubia vẫn tiếp nối không gian sống bằng những trang trí đậm bản sắc, như một cách để họ mang theo tâm hồn đến nơi ở mới. Khi nhìn vào những màu sắc vui tươi đối nghịch với những mất mát trong quá khứ, tôi không khỏi chạnh lòng và thán phục tinh thần người dân nơi đây.

Trời ngả về chiều, tôi dừng chân tại một quán ven sông, ngồi nhâm nhi một ly trà dâm bụt chỉ ở đây mới có. Lặng ngắm mặt trời xuống dần và những ngôi nhà bắt đầu lên đèn, tôi chợt nghĩ cuộc sống hiện đại có lẽ đã mang lại nhiều cơ hội khiến cho thế giới biết đến những người dân làng Nubia nhưng cũng đã lấy đi của họ nhiều thứ không thể đảo ngược.

sông nile - Ảnh 2.

Làng Nubia và những ngôi nhà tươi sáng

Luxor, đôi bờ sự sống và cái chết

Đoạn sông giữa Aswan và Luxor là nơi tập trung mật độ di sản dày đặc nhất. Mỗi khúc quanh lại mở ra một ngôi đền kỳ vĩ. Trong số những thành phố di sản, Luxor là trường hợp độc nhất mà ở đó không gian đô thị, tôn giáo và quyền lực được kết tinh thành di sản kiến trúc kéo dài hơn bốn thiên niên kỷ.

Quy hoạch của Luxor vẫn giữ nguyên cấu trúc từ thời Thebes cổ đại - thủ đô của Tân Vương quốc với bờ Đông là thành phố của người sống và bờ Tây là thành phố người chết. Bờ Đông là nơi mặt trời mọc, tập trung các đền thờ và cũng là nơi cư dân sinh sống, buôn bán sầm uất.

Dải đường đi bộ ven sông Nile là nơi người dân Luxor tụ tập hóng mát, uống trà và ngắm nhìn những cánh buồm Felucca - một hình ảnh không hề thay đổi từ thời các Pharaoh.

Bờ Tây là nơi mặt trời lặn, là "Vương quốc vĩnh cửu" với Thung lũng các vị vua, Thung lũng các hoàng hậu và các đền thờ, linh cữu, nơi các Pharaoh Tân Vương quốc chọn để ẩn giấu lăng mộ thay vì xây kim tự tháp lộ thiên như thời cổ.

Để nhìn ngắm khu nghĩa trang hoàng gia nổi tiếng này, phương tiện thú vị nhất là bay bằng khinh khí cầu vào lúc bình minh vừa chạm trên những ngôi đền. Mặc dù phải thức dậy từ 4h sáng nhưng trải nghiệm này hoàn toàn xứng đáng. Khoảnh khắc hàng trăm quả cầu đủ màu sắc bay lên và mặt trời ló dạng trên đường chân trời Luxor là một quang cảnh đầy mê hoặc.

Từ trên cao tôi thấy rõ rệt một bên là dải ruy băng xanh ngắt của sông Nile và những cánh đồng lúa mì xanh mướt của sự sống và ngay bên cạnh là màu vàng xám của sa mạc khô cằn với những lăng mộ ẩn hiện, biểu tượng cái chết.

Tại đây các cuộc khai quật vẫn diễn ra hằng ngày đã hình thành làng Qurna - nơi nhiều gia đình đã sống nhiều thế kỷ ngay phía trên và đôi khi là bên trong các ngôi mộ cổ. Hiện tượng này tạo nên một sự chồng lấn kỳ lạ giữa cuộc sống thường nhật và các kho báu nghìn năm. Ngôi làng này là nơi diễn ra một trong những sự cộng sinh kỳ lạ nhất giữa "người sống" và "người chết".

Người dân Qurna đã tận dụng địa hình dốc của các ngọn đồi để xây dựng nhà bằng gạch bùn. Lối vào nhà thường trùng với lối vào của các lăng mộ cổ. Họ sử dụng không gian bên trong lăng mộ để chứa đồ, làm chuồng gia súc, thậm chí là phòng ngủ để tránh cái nóng thiêu đốt của sa mạc.

Trẻ em ở Qurna lớn lên với "sách giáo khoa" là các bức tường lăng mộ. Họ biết rõ từng ngõ ngách, từng vị thần trên vách đá như lòng bàn tay và thường trở thành những người dẫn đường am hiểu nhất vùng.

Ở Việt Nam, những ngôi mộ cũng nằm rải rác trên các cánh đồng, người dân cũng sống và canh tác bên cạnh tổ tiên mình. Nhưng cả một cộng đồng 10.000 người sống trong một nghĩa trang khổng lồ như vậy thì tôi chưa thấy bao giờ.

Vào khoảng năm 2006-2009, Chính phủ Ai Cập đã cưỡng chế di dời quy mô lớn để bảo vệ các lăng mộ khỏi sự xuống cấp do độ ẩm từ sinh hoạt của con người và ngăn chặn tình trạng "trộm mộ" nhỏ lẻ. Hàng ngàn gia đình bị chuyển xuống ngôi làng mới - New Qurna nằm ở vùng bằng phẳng phía dưới. Những ngôi nhà cũ đầy màu sắc trên sườn đồi bị san phẳng, chỉ còn lại những đống đổ nát lốm đốm.

Nói về làng Qurna không thể không nhắc đến kiến trúc sư huyền thoại Hassan Fathy, một kiến trúc sư Ai Cập dám chống lại mô hình hiện đại hóa kiểu phương Tây để phục hồi tri thức bản địa, vật liệu truyền thống và cộng đồng nông dân sông Nile.

Ông đã cố gắng xây dựng ngôi làng New Qurna bằng các vật liệu địa phương bền vững và mái vòm truyền thống để người dân cảm thấy gần gũi nhất với bản sắc của mình.

Dù mang tính cách mạng, dự án của Fathy gặp nhiều trở ngại tài chính và không thể tiếp tục nhưng New Qurna vẫn trở thành biểu tượng của kiến trúc nhân văn, được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới và luôn được xem như một trong những thí nghiệm kiến trúc - xã hội quan trọng nhất thế kỷ 20. Từ trên cao ta vẫn có thể thấy một vài công trình của ông.

Hành trình sông Nile làm tôi nghĩ nhiều về quê hương mình. Việt Nam cũng là đất nước có lịch sử sâu dày hàng ngàn năm đầy tự hào. Chúng ta phát triển du lịch, cần xây dựng cái mới nhưng nên quý trọng và hết sức giữ gìn truyền thống. Đó là cội nguồn, tổ tiên chúng ta và cũng là giá trị sâu sắc riêng có để hấp dẫn bạn bè bốn phương tìm về…

sông nile - Ảnh 3.

Khinh khí cầu ngắm bình minh trên thung lũng các vị vua - Ảnh: B.D.Đ.

Khi khinh khí cầu đáp xuống, nhiều "trai làng" đã giúp chúng tôi tiếp đất nhẹ nhàng. Những chàng trai vui vẻ với thù lao làm thêm buổi sáng của mình và trở về làng tiếp tục với những "đống đổ nát lốm đốm" và những công trường khảo cổ. Tôi trở lại bến sông, nơi các du thuyền phải đậu sát nhau thành hàng ba, hàng tư. Để lên được thuyền của mình, tôi phải đi bộ xuyên qua sảnh của các tàu khác.

Trên thuyền, tôi lại thưởng thức ly trà dâm bụt mát lành khi gió sông thổi qua, lặng ngắm ánh mặt trời nhuộm vàng những rặng dừa và những đụn cát sa mạc đỏ rực. Đây là lúc sông Nile đẹp đến nghẹt thở.

Xuôi sông Nile mà nhớ Việt Nam - Ảnh 4.Những nỗi niềm của sông Nile

TTO - Tôi đã tìm đến khởi nguồn của các bể nước khổng lồ theo đường sông như Pascal nói. Thả mình trôi theo cả sự êm ả và dữ dội của dòng nước để hiểu được chân lý của sự sống, để cảm nhận cơ thể của sông gắn với đời sống của người.

Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất