
Một con sông ở Cape York, Úc, cạn trơ đáy - Ảnh: TRẦN TRIẾT, chụp ngày 26-8-2026
Tại Papua New Guinea, tôi cũng chứng kiến mực nước sông Fly lớn nhất của Papua New Guinea xuống mức thấp kỷ lục. Những quan sát ấy diễn ra trong bối cảnh El Nino 2026-2027 đang phát triển rất mạnh. Liệu đó là chỉ báo sớm cho mùa khô khốc liệt sắp đến trên Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)?
El Nino 2026-2027 và bài toán nước cho Đồng bằng sông Cửu Long
Trở về ĐBSCL, tôi lại gặp hình ảnh trái ngược: nước lũ Mekong đang lên nhanh. Nhưng diễn biến năm nay cũng cho thấy không dễ kết luận mùa lũ cao hay thấp chỉ từ mực nước chúng ta đang nhìn thấy.
Câu hỏi quan trọng lúc này không chỉ là lũ năm nay cao hay thấp, mà là sau khi mùa lũ kết thúc chúng ta còn bao nhiêu nước cho mùa khô 2027 trong bối cảnh một năm El Nino rất mạnh.
Ngày 3-9, Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) đưa ra cảnh báo: El Nino hiện tại vẫn chưa đạt đỉnh, gần như chắc chắn sẽ kéo dài đến tháng 2-2027, và có thể trở thành một trong những El Nino mạnh nhất từng được quan trắc trong 40 năm qua. Nó đã và đang gây tình trạng hạn hán nhiều vùng rộng lớn trên thế giới.

Ngành thủy sản ĐBSCL phụ thuộc vào nguồn nước - Ảnh: QUỐC VIỆT
UNICEF Việt Nam, trong báo cáo cảnh báo El Nino 2026-2027 công bố tháng 8-2026, cũng cho biết El Nino có trên 95% khả năng tiếp tục sang năm 2027 và xác định ĐBSCL là một trong những khu vực có nguy cơ cao về hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn, đặc biệt từ cuối năm 2026 đến tháng 5-2027.
Về tình hình lũ, các dự báo trước đây cho rằng lũ 2026 có khả năng thấp hơn trung bình nhiều năm. Tuy nhiên diễn biến thực tế trong tháng 8 cho thấy dòng chảy thượng nguồn đã tăng khá mạnh. Tổng lượng nước qua Tân Châu và Châu Đốc trong tháng 8 ước khoảng 72,3 tỉ m³, cao hơn trung bình nhiều năm khoảng 16%.
Dự báo cho tháng 9 hiện cũng còn khác nhau. Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia dự báo mực nước cao nhất tháng tại Tân Châu khoảng 3,3m và Châu Đốc 2,9m, trong khi Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam đưa ra mức cao hơn, tương ứng 3,4-3,6m và 3,1-3,3m. Mùa lũ vẫn đang diễn biến, vì vậy còn khá sớm để kết luận 2026 là một năm lũ lớn, nhỏ hay trung bình.
Đối với ĐBSCL, giá trị của một mùa lũ không chỉ đo bằng đỉnh nước tại Tân Châu hay Châu Đốc. Điều quan trọng không kém là tổng lượng nước về đồng bằng trong cả mùa, lũ đến sớm hay muộn, duy trì bao lâu, rút nhanh hay chậm, và bao nhiêu nước được giữ lại trong sông rạch, đồng ruộng, các vùng ngập nước tự nhiên và hồ Tonlé Sap bên Campuchia.
Trong vùng ĐBSCL, mùa lũ và mùa khô không phải hai câu chuyện tách biệt. Trong mùa lũ, một phần nước Mekong chảy ngược vào hồ Tonlé Sap, tạo nên vùng trữ nước tự nhiên rất lớn. Khi mùa khô đến, dòng chảy đảo chiều và hồ Tonlé Sap lại góp phần duy trì dòng chảy sông Mekong.
Sản xuất nông nghiệp sẽ chịu tác động như thế nào?
Đối với nông nghiệp ĐBSCL, vấn đề không đơn giản là "có nước" hay "không có nước". Điều quan trọng là có nước ngọt đúng lúc cây trồng cần nước hay không.
Lúa đông xuân
Đây là vụ lúa cần được đặc biệt quan tâm. Nếu mùa mưa kết thúc sớm, dòng chảy Mekong giảm nhanh và xâm nhập mặn xuất hiện sớm, vùng ven biển có thể gặp khó khăn trong việc bảo đảm nước ngọt cho lúa đông xuân.
Một nghiên cứu mới công bố năm 2026 trên Journal of Agricultural Economics, sử dụng dữ liệu cấp huyện của toàn ĐBSCL giai đoạn 2000-2020, xác nhận độ mặn có tác động tiêu cực đến năng suất lúa đông xuân, nhưng mức độ ảnh hưởng rất khác nhau giữa các vùng. Tại những khu vực cách biển không quá 20km, mô hình nghiên cứu ước tính mỗi 1g/l độ mặn tăng thêm trong tháng 2 có liên quan đến mức giảm khoảng 68kg/ha năng suất. Khi độ mặn vượt ngưỡng chịu đựng của cây lúa, thiệt hại có thể tăng rất nhanh. Những nghiên cứu trước đây ở Sóc Trăng cho thấy thiệt hại do xâm nhập mặn có thể lên đến 2,5-4 tấn/ha trong vụ đông xuân.
Vấn đề đối với sản xuất không chỉ là "thiếu nước", mà là nguy cơ nước mặn xuất hiện sớm, kéo dài và vượt ngưỡng chịu đựng đúng vào giai đoạn cây lúa đông xuân đang phát triển. Điều này cho thấy thời điểm xuất hiện nước mặn quan trọng không kém mức độ mặn.
Nếu dự báo mùa khô cho thấy nguy cơ mặn đến sớm, việc điều chỉnh lịch xuống giống có thể là một trong những giải pháp quan trọng. Tuy nhiên không nên hiểu rằng toàn ĐBSCL phải gieo sạ sớm đồng loạt; lịch thời vụ cần được tính toán theo từng vùng, nguồn nước và điều kiện sản xuất cụ thể.

Vựa lúa ĐBSCL trông chờ vào nguồn nước ngọt - Ảnh: QUỐC VIỆT
Cây ăn trái
Cây ăn trái có một đặc điểm khác với lúa: đây là cây lâu năm, bộ rễ nằm sâu trong đất và không thể đơn giản "chờ hết mặn rồi trồng lại". Một đợt hạn mặn kéo dài có thể ảnh hưởng đến sinh trưởng, năng suất và sức khỏe của cả vườn cây trong những năm tiếp theo.
Do đó đối với các vùng chuyên canh cây ăn trái, việc chủ động trữ nước ngọt và theo dõi độ mặn cần được thực hiện trước khi nước mặn xâm nhập, chứ không nên chờ đến khi nguồn nước trong kênh đã bị mặn mới ứng phó.
Lúa - tôm và nuôi thủy sản
Không phải mọi sự gia tăng độ mặn đều là "thiên tai" đối với mọi mô hình sản xuất. Ở những vùng lúa - tôm ven biển, nước mặn theo mùa có thể là một phần của hệ thống sản xuất. Vấn đề nằm ở mức độ, thời gian và tốc độ thay đổi của độ mặn, cũng như khả năng điều tiết nước của người sản xuất.
Trong một mùa khô khắc nghiệt, khi nước ngọt trở nên khan hiếm, chính sự biến động quá lớn giữa nước ngọt và nước mặn mới có thể trở thành rủi ro lớn.
Còn các hồ thủy điện thượng nguồn thì sao?
Đây là vấn đề thường được nhắc đến mỗi khi nói về nguồn nước Mekong, nhưng cũng là vấn đề cần được diễn đạt thận trọng. Không thể đơn giản nói rằng các hồ thủy điện giữ nước nên ĐBSCL sẽ bị hạn.
Các hồ chứa thực sự làm thay đổi chế độ dòng chảy theo mùa. Trong một số thời kỳ, việc tích nước có thể làm giảm dòng chảy mùa lũ. Ngược lại, việc xả nước để phát điện hoặc theo các yêu cầu vận hành khác có thể làm tăng dòng chảy mùa khô.
Vì vậy trong năm El Nino, câu hỏi quan trọng hơn là lượng nước vào các hồ sẽ còn bao nhiêu, lượng nước đang được tích trữ là bao nhiêu và các hồ sẽ được vận hành như thế nào trong những tháng mùa khô. Đây là vấn đề cần được theo dõi ở quy mô toàn lưu vực, thay vì quy trách nhiệm cho một số chủ thể riêng lẻ.
Đặc biệt trong năm El Nino mạnh, khi lượng mưa và dòng chảy thượng nguồn có thể suy giảm, khả năng dự trữ và quy trình vận hành hồ chứa trở thành một phần quan trọng trong bài toán an ninh nước cho vùng hạ lưu.
Điều chúng ta cần là sự minh bạch về lượng nước đang được lưu trữ, lượng nước về hồ và kế hoạch vận hành các hồ chứa trong mùa khô.
Ba kịch bản cho mùa khô 2027
Cảnh báo mới nhất của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) cho thấy El Niño hiện nay có khả năng tiếp tục mạnh lên và kéo dài ít nhất đến tháng 2-2027. Hiện vẫn chưa biết chắc lưu vực Mekong sẽ nhận được bao nhiêu mưa trong những tháng tới, mùa lũ tích lũy được bao nhiêu nước và bao nhiêu trong số đó còn lại cho mùa khô.

Khai thác cá tự nhiên trong mùa nước ở ĐBSCL - Ảnh: QUỐC VIỆT
Từ những thông tin hiện có, có thể hình dung 3 kịch bản.
Kịch bản thuận lợi: Mặc dù El Nino duy trì ở cường độ rất mạnh, tổng lượng nước về ĐBSCL trong phần còn lại của mùa lũ vẫn tương đối tốt, hồ Tonlé Sap tích trữ được lượng nước đáng kể và dòng chảy Mekong không suy giảm quá nhanh khi bước vào mùa khô. Nếu các hồ chứa thượng nguồn cũng còn đủ nước và được vận hành theo hướng duy trì dòng chảy mùa khô, ĐBSCL vẫn có khả năng tránh được một mùa hạn mặn nghiêm trọng.
Kịch bản đáng lo: El Nino rất mạnh đạt đỉnh vào cuối năm 2026, trong khi mùa lũ kết thúc sớm hoặc nước rút nhanh, lượng nước tích lũy trong hồ Tonlé Sap không lớn và dòng chảy Mekong suy giảm nhanh khi bước vào mùa khô. Khi đó nguồn nước ngọt trong ĐBSCL có thể giảm sớm, làm tăng nguy cơ xâm nhập mặn và gây khó khăn cho vụ lúa đông xuân cũng như các vùng cây ăn trái.
Kịch bản rủi ro cao: El Nino phát triển theo quỹ đạo rất mạnh hoặc đặc biệt mạnh như WMO đang cảnh báo, đồng thời lượng mưa trên lưu vực Mekong giảm đáng kể trong những tháng cuối năm, mùa lũ kết thúc sớm và dòng chảy suy giảm nhanh. Nếu lượng nước tích trữ trong hồ Tonlé Sap và các hồ chứa thượng nguồn cũng thấp, ĐBSCL có thể bước vào mùa khô với nguồn dự trữ nước rất hạn chế. Xâm nhập mặn có nguy cơ đến sớm, kéo dài và vào sâu hơn, trong khi nhiệt độ cao làm tăng thêm nhu cầu nước của cây trồng.
UNICEF sử dụng một kịch bản rủi ro rất cao trong công tác chuẩn bị, theo đó lượng mưa và dòng chảy có thể thấp hơn trung bình 20-40%. Cần nhấn mạnh rằng đây là kịch bản chuẩn bị cho tình huống rủi ro rất cao, không phải dự báo chắc chắn cho ĐBSCL năm 2027.

Mùa nước tháng 9 đổ về kênh Vĩnh Tế, An Giang - Ảnh: QUỐC VIỆT

Người dân nuôi ong lấy mật trong mùa nước ở Long An - Ảnh: QUỐC VIỆT
Đừng đợi đến khi nước mặn mới bắt đầu cảnh báo
Điều đáng làm ngay từ bây giờ là chuyển từ tư duy "dự báo hạn mặn" sang "dự báo chuỗi rủi ro nguồn nước". Một hệ thống cảnh báo tốt cần nối được các mắt xích: El Nino → mưa trên lưu vực Mekong → dòng chảy thượng nguồn → lượng nước vào hồ Tonlé Sap → dòng chảy tại Kratie → Tân Châu và Châu Đốc → lượng nước trong hệ thống kênh rạch ĐBSCL → xâm nhập mặn → nhu cầu nước của từng vùng sản xuất.
Khi các mắt xích này được cập nhật liên tục, chúng ta không cần chờ đến tháng 2 hay tháng 3-2027 mới biết nguy cơ hạn mặn nghiêm trọng.
Đối với từng vùng sản xuất, cần trả lời sớm hơn những câu hỏi rất thực tế: Bao giờ cần tích nước? Bao nhiêu nước ngọt cần được dự trữ? Khi nào nên xuống giống? Khi nào phải đóng cống lấy nước? Vùng nào có thể tiếp tục trồng lúa? Vùng nào nên chuyển sang mô hình canh tác khác? Những vườn cây nào cần ưu tiên bảo vệ nguồn nước? Đó mới là những cảnh báo sớm có giá trị đối với người sản xuất.
Mùa lũ 2026 vẫn chưa kết thúc và còn quá sớm để kết luận đây là một mùa lũ lớn hay nhỏ. Nhưng chính sự chưa chắc chắn ấy là lý do chúng ta cần chuẩn bị ngay từ bây giờ. Điều cần theo dõi không chỉ là đỉnh lũ, mà là lượng nước còn lại trong toàn hệ thống khi mùa lũ kết thúc: hồ Tonlé Sap đã tích được bao nhiêu nước, dòng chảy Mekong đang giảm nhanh hay chậm, các hồ chứa thượng nguồn còn bao nhiêu nước và lượng nước ngọt trong hệ thống ĐBSCL có thể duy trì được bao lâu.
ĐBSCL không thể ngăn El Nino. Chúng ta cũng không thể quyết định lượng mưa trên toàn lưu vực Mekong. Nhưng chúng ta có thể quyết định việc chuẩn bị tốt như thế nào.
Vì vậy thay vì chờ xem mùa khô 2027 có trở thành một mùa hạn mặn nghiêm trọng hay không, câu hỏi nên được đặt ra ngay từ bây giờ là sau mùa lũ 2026, chúng ta còn bao nhiêu nước và chúng ta sẽ sử dụng lượng nước ấy như thế nào để đi qua mùa khô 2027.
(Kỳ tới: Đồng bằng sông Cửu Long hứng nước lũ 2026 để dành cho mùa khô 2027 được không?)

Người dân chế biến cá đồng trong mùa nước ở An Giang - Ảnh: QUỐC VIỆT
ENSO và El Nino là gì?
ENSO là hiện tượng tương tác tự nhiên giữa đại dương và khí quyển ở vùng nhiệt đới Thái Bình Dương, gồm ba trạng thái: El Nino, La Nina và trung tính.
El Nino xảy ra khi nhiệt độ mặt nước biển ở khu vực trung tâm và phía đông Thái Bình Dương xích đạo cao hơn bình thường, làm thay đổi hoàn lưu khí quyển và phân bố mưa trên diện rộng. Một chỉ số quan trọng để theo dõi El Nino là nhiệt độ nước biển tại vùng Nino3.4, khoảng 5°N-5°S và 120°W-170°W.
Đối với ĐBSCL, điều đáng quan tâm là El Nino có thể làm thay đổi lượng mưa trên lưu vực và dòng chảy sông Mekong, từ đó làm tăng nguy cơ thiếu nước và xâm nhập mặn.
TS Trần Triết là giảng viên Trường ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia TP.HCM, đồng thời phụ trách Chương trình bảo tồn các loài sếu vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương của Hội Sếu quốc tế (International Crane Foundation). TS Triết đã tham gia nhiều chương trình nghiên cứu cơ bản về ĐBSCL, bắt đầu từ những năm 1980 trong Chương trình điều tra cơ bản tổng hợp vùng ĐBSCL.
Ông cũng đang tiến hành một số đề tài nghiên cứu về các hệ sinh thái đất ngập nước tại các khu bảo tồn thiên nhiên vùng ĐBSCL. Ông và các cộng sự vừa công bố sách chuyên khảo về thực vật đất ngập nước ĐBSCL. Ông hiện là cố vấn cho Chương trình phục hồi đàn sếu đầu đỏ tại Vườn quốc gia Tràm Chim.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận