
Một hệ thống kênh nội đồng tại Đồng Tháp cạn đáy trong mùa khô năm 2020 (ảnh tư liệu) - Ảnh: MẬU TRƯỜNG
Mọi thứ đang hiện diện trên từng cánh đồng, từng dòng kênh, từng hộ gia đình.
Năm nay hạn mặn lại đến sớm. Từ đầu tháng 4, ranh mặn 4-6‰ lấn sâu vào khu vực vàm Mái Dầm, đe dọa trực tiếp hệ thống lấy nước sinh hoạt của TP Cần Thơ (khu vực Sóc Trăng trước đây).
Nhiều địa phương ven biển như Vĩnh Châu, Vĩnh Hải hay Trần Đề tiếp tục đối mặt với tình trạng thiếu hạ tầng cấp nước.
Chỉ riêng Cần Thơ đã thiếu khoảng 1 triệu mét đường ống dẫn nước sạch để đưa nước ngọt về cho người dân. Hạn mặn không chỉ là câu chuyện của nông nghiệp mà còn liên quan trực tiếp đến an ninh nước sinh hoạt của hàng chục triệu người dân.
Tại hội nghị giao ban ngành nông nghiệp và môi trường vùng ĐBSCL mới đây, ngoài câu chuyện thủy văn một vấn đề khác cũng được đặt ra: bộ máy nhân sự sau khi sắp xếp lại đang gặp nhiều vướng mắc.
Ở một số địa phương, cán bộ xã chủ yếu am hiểu địa chính, còn các vấn đề kỹ thuật nông nghiệp phải chờ tuyến tỉnh hỗ trợ.
Trong bối cảnh hạn mặn diễn biến phức tạp, sự thiếu hụt nguồn nhân lực chuyên môn ngay tại cơ sở có thể khiến việc ứng phó có thể trở nên chậm trễ.
Chính vì vậy, trong kịch bản ứng phó hạn mặn câu chuyện không chỉ nằm ở công trình hay dự báo khí tượng. Ở đó còn là bài toán về tổ chức, về năng lực quản lý và về cách tiếp cận tổng thể đối với toàn vùng.
Thực tế cho thấy ĐBSCL đã có nhiều kinh nghiệm thích ứng với hạn mặn trong những năm qua. Các hệ thống cống ngăn mặn, trữ ngọt được xây dựng ở nhiều địa phương.
Lịch thời vụ được điều chỉnh linh hoạt để tránh thời điểm xâm nhập mặn cao nhất. Một số vùng đã chuyển đổi cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện nước lợ.
Tuy nhiên những giải pháp ấy vẫn còn mang tính cục bộ. Một trong những kịch bản quan trọng cần được đặt ra là quản lý nguồn nước theo quy mô toàn vùng. Không thể tiếp tục ứng phó theo từng tỉnh riêng lẻ.
Nước chảy luồn lách qua nhiều địa phương nên việc quy hoạch thủy lợi, hệ thống trữ nước và phân bổ nguồn nước cần được thiết kế như một chỉnh thể thống nhất.
Bên cạnh đó, việc đầu tư hạ tầng cấp nước sinh hoạt phải được xem là ưu tiên hàng đầu. Những con số như "thiếu 1 triệu mét đường ống nước" không chỉ là câu chuyện của một địa phương. Đó là lời cảnh báo rằng hệ thống cung cấp nước sạch ở nhiều vùng vẫn chưa theo kịp tốc độ biến đổi của môi trường.
Bà con thích nghi nhanh, nhưng...
Trong những chuyến về miền Tây Nam Bộ mùa hạn mặn, điều khiến tôi ấn tượng nhất là sự thích nghi rất nhanh của người dân.
Có nơi bà con chuyển sang nuôi tôm - lúa, có nơi trồng cây ăn trái chịu mặn, có nơi chủ động trữ nước mưa từ rất sớm. Người dân đã thay đổi nhưng để sự thay đổi ấy bền vững, họ cần được hỗ trợ bởi một hệ thống chính sách rõ ràng hơn.
Đó là hỗ trợ chuyển đổi sản xuất phù hợp với điều kiện nước lợ, nước mặn. Là đầu tư công nghệ dự báo và cảnh báo sớm để nông dân chủ động kế hoạch mùa vụ.
Là kiểm soát giá vật tư nông nghiệp và mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản trong bối cảnh các rào cản "xanh" của thương mại quốc tế ngày càng khắt khe. Nhưng có lẽ điều quan trọng nhất là thay đổi cách nhìn về đồng bằng.
Tôi cho rằng ĐBSCL không thể chỉ được xem là nơi sản xuất lúa gạo. Đó còn là một hệ sinh thái rộng lớn, nơi con người phải sống cùng với nước chứ không chỉ lo ứng phó khi nước bất thường.
Trong câu chuyện ứng phó với hạn mặn, đôi khi kịch bản hiệu quả nhất không phải là tìm cách ngăn mọi dòng mặn mà là học cách sống hài hòa hơn với sự thay đổi của thiên nhiên.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt, sự kiên cường của người dân cần được tiếp sức bởi những kịch bản ứng phó dài hạn, khoa học và đồng bộ hơn.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận