
Một thứ tiếng Hy Lạp cổ đại từng vang trên môi những triết gia đã khuất bóng ngàn năm. Mọi thứ trong tiểu thuyết Bài học tiếng Hy Lạp của Han Kang dường như đều nằm bên bờ hủy diệt.
Bài học cứu rỗi
Sự hủy diệt ấy không gây kinh động, chẳng tồn tại dư vang, chỉ lặng lẽ tựa tuyết cứ chầm chậm không ngừng phủ xuống thế gian, bôi xóa thế gian bằng sắc trắng tinh khiết của nó: "Những tĩnh lặng chất chồng, tựa như tuyết rơi mãi mãi xóa đi dấu vết./ Lặng lẽ dâng lên tới đầu gối, tới thắt lưng, tới mắt" (tr. 219).
Tiểu thuyết Bài học tiếng Hy Lạp không nhiều chuyện, Han Kang không kể chuyện, bà khám phá các trạng thái tồn tại của đời sống con người.
Các nhân vật trong Bài học tiếng Hy Lạp đối diện với những tai biến họ không đủ khả năng chống lại hay tránh khỏi. Họ rơi vào trạng thái tịch tĩnh như tất định. Đường đột, bất trắc, ai cũng có thể gặp trong đời. Và khi định mệnh đó xảy ra, thế giới không thể vãn hồi trạng thái ban đầu nữa.
Tại một lớp học ở thủ đô Seoul của Hàn Quốc, một nhóm người ngày ngày cố cắt nghĩa, học hỏi một thứ ngôn ngữ thuộc về thời cổ đại. Mỗi người mang trong mình một mục đích.
Như chàng sinh viên khoa triết, hẳn chàng muốn tiếp cận triết học Hy Lạp một cách trực tiếp tựa hồ chính chàng nghe giảng từ miệng các triết gia cổ đại?
Còn thầy của họ, vị giảng viên tiếng Hy Lạp cổ đại ấy, anh sẽ ra sao khi đánh mất thị lực hoàn toàn? Khi đó, đôi mắt đã quen với những ký tự Hy Lạp không còn giúp ích cho anh nữa. Anh phải học cách lắng nghe nó, chạm vào nó, cảm nhận nó bằng xúc giác thay cho thị giác.
Hãy chạm vào ngôn ngữ giống môi chạm môi, "Như thể thời gian đang hôn", kể cả "Mỗi khi môi chạm vào môi, bóng tối mênh mang lại tụ về" (tr. 219). Đến lúc đó lời không còn quan trọng nữa vì trong cái vô ngôn, con người tìm được niềm giao cảm, tìm cách thấu hiểu nhau.
Không phải ngẫu nhiên ngay từ đầu Han Kang đã đề cập đến Phật pháp, kinh Phật đến các bài giảng mang chủ đề Phật giáo của văn hào Borges.
Bản thân Jorge Luis Borge những năm cuối đời cũng sống trong cảnh mù lòa. Bà muốn nhắc đến bản chất phù áo của cuộc đời, đến lẽ vô thường, như trong cuốn sách này người ta có thể đột ngột mất đi khả năng nói hay nhìn.
Trong cuộc đời vô thường ấy, quyền năng của ngôn từ tỏa rạng. Cái mà bà muốn nói đến có lẽ là các khả thể của ngôn từ. Cả khi không còn nghe, không còn thấy thì con người vẫn có những cách để tìm nguồn an ủi trong ngôn từ, chính trong văn chương, ngôn từ tìm được hiện thân đẹp đẽ nhất của mình.
Văn xuôi giàu chất thơ
Cuốn tiểu thuyết này mang một thứ văn chương giàu chất thơ. Điều mà Han Kang cố theo đuổi từ tác phẩm này qua tác phẩm khác.
Nhân vật của bà đánh mất khả năng nói, giao tiếp chủ yếu bằng việc viết. Có một trường đoạn nhân vật nữ viết vào tay nhân vật nam để có thể "trò chuyện" với anh: "Từ bóng đen ấy đưa ra một thứ gì màu trắng. Thứ đó nắm lấy tay trái của anh và mở lòng bàn tay anh ra. Một thứ màu trắng khác chầm chậm đưa tới và viết vào lòng bàn tay anh" (tr. 209).
Cố viết từng từ như thể một bài đoản thi, như thể từng hạt tuyết chầm chậm rơi, chất thành đống rồi tan biến khi vầng dương ló rạng. Cách bố trí tên chương trong tiểu thuyết Bài học tiếng Hy Lạp biểu hiện sự gián đoạn.
Chương đầu tiên không có tên, chương hai tên "Sự im lặng", chương ba và bốn không có tên, chương năm tên "Giọng nói". Sự ngắt quãng này cũng không đều nhau. Chương cuối cùng được đánh số 0.
Từ hữu về vô. Từ cất lời đến im lặng. Tối hậu là một lặng im tuyệt đối. Trong vô ngôn, sau rốt, nhân vật đã giác ngộ: "Giây phút mà cuối cùng tôi cũng phát ra được âm tiết đầu tiên, tôi nhắm chặt mắt lại rồi lại mở ra./ Như thể đã giác ngộ được rằng, khi mở mắt tất cả đều đã biến mất" (tr. 220).
Từ Người ăn chay đến Bài học tiếng Hy Lạp, Han Kang trung thành với những thi hứng mình say mê theo đuổi. Nhưng đó chính xác là gì? Phải chăng đó chính là cái mong manh của đời sống con người? Là một thứ cảm thức khó định nghĩa, đặt tên? Và nhiệm vụ của nhà văn là khám phá cái bí ẩn ấy của tâm hồn, của cuộc đời bằng ngôn từ, dẫu biết điều đó thiên nan vạn nan?
So với Người ăn chay, tiểu thuyết Bài học tiếng Hy Lạp ấm áp hơn. Nó cho thấy con người vẫn còn khả năng mơ mộng, rằng tình yêu là khả dĩ, rằng đánh mất bất cứ điều gì kể cả âm thanh hay ánh sáng vẫn không phải là kết thúc.
Ở đó tha nhân không nhất thiết phải đồng nghĩa với địa ngục. Ở đó giữa tha nhân, con người tìm được hơi ấm con người và ngôn từ thành cứu cánh niết bàn.

Nhà văn Han Kang trong buổi họp báo tại Thụy Điển - Ảnh: News1
Han Kang sinh năm 1970 tại Gwangju, địa danh trở thành vết thương trầm trọng nhất trong lịch sử Hàn Quốc hiện đại, bối cảnh cho cuốn tiểu thuyết nổi tiếng quốc tế của Han Kang Bản chất của người.
Han Kang thành danh trên thế giới nhờ tiểu thuyết Người ăn chay đoạt giải Booker quốc tế năm 2016. Bà đoạt giải Nobel Văn chương năm 2024 vì những tác phẩm "đầy chất thơ mãnh liệt, đối diện với những tổn thương lịch sử và làm lộ rõ sự mong manh của đời người". Han Kang là người Hàn Quốc đầu tiên nhận được vinh dự này.
Phần lớn các tác phẩm quan trọng của Han Kang đều được dịch và xuất bản ở Việt Nam, bao gồm: Người ăn chay, Bản chất của người, Trắng, Tay người lạnh giá.
Trong tuyên dương của Chủ tịch Ủy ban Nobel, ông Anders Olsson, khi công bố giải Nobel Văn chương năm 2024, tiểu thuyết Bài học tiếng Hy Lạp là một trong những tác phẩm được dẫn ra như căn cứ để đánh giá văn nghiệp của Han Kang.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận