
Người lao động xếp hàng chờ phỏng vấn tại một hội chợ việc làm ở Chinchwad, Ấn Độ - Ảnh: REUTERS
Dù là một trong những quốc gia có hệ thống giáo dục quy mô lớn và số lượng sinh viên tốt nghiệp thuộc hàng đầu thế giới, Ấn Độ đang đối mặt với một nghịch lý đáng lo ngại: càng nhiều cử nhân ra trường, cơ hội việc làm ổn định lại càng trở nên khan hiếm.
Theo báo cáo State of Working India 2026 của Đại học Azim Premji, gần 40% cử nhân dưới 25 tuổi và khoảng 20% nhóm 25 - 29 tuổi ở Ấn Độ vẫn đang trong tình trạng thất nghiệp. Thậm chí theo báo The Straits Times, tỉ lệ cử nhân tìm được việc làm ổn định cũng rất khiêm tốn: chỉ 6,7% có công việc hưởng lương cố định, trong khi các vị trí "cổ cồn trắng" chiếm chưa đến 3,7%.
Bằng cấp nhiều cũng không tìm ra việc
Giáo sư Rosa Abraham, tác giả báo cáo State of Working India 2026, nhận định dù tỉ lệ thất nghiệp của cử nhân thường duy trì ở mức 35 - 40% suốt bốn thập niên qua, nhưng quy mô hiện nay đã trở nên trầm trọng hơn rất nhiều do số lượng người tốt nghiệp đang tăng vọt.
Từ năm 2004 đến 2023, trung bình mỗi năm Ấn Độ có thêm 5 triệu cử nhân, nhưng chỉ 2,8 triệu người thực sự gia nhập lực lượng lao động. Dù vậy, phần lớn trong số đó phải chấp nhận làm các công việc tự do hoặc quay về với nông nghiệp, theo tờ India Today.
Ngay cả tại các viện công nghệ danh giá như IIT Bombay, tấm bằng vốn được coi là "vé vàng" để bước vào thị trường lao động giờ đây cũng mang tính may rủi khi có đến 8.000 trên tổng số 21.500 sinh viên mới ra trường vẫn chưa tìm được việc.
The Straits Times dẫn câu chuyện cá nhân của anh Shorya Nilesh Londhe - một cử nhân truyền thông ưu tú tại Mumbai. Shorya cho hay anh phải vật lộn 3 năm để tìm một công việc toàn thời gian. Thậm chí cô Ashwini Rudrappa, 26 tuổi, người có trong tay bằng cử nhân giáo dục và thạc sĩ kinh tế, cũng mất nhiều năm tìm việc mà không thành công.
Ấn Độ hiện là nền kinh tế lớn thứ tư thế giới với độ tuổi trung vị lý tưởng là 29 - một lợi thế dân số vàng hiếm có. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo lợi thế này đang đứng trước nguy cơ trở thành gánh nặng xã hội nếu quốc gia không thể tạo ra đủ việc làm chất lượng.
Việc một đằng, đào tạo một nẻo
Nguyên nhân cốt lõi của vấn đề bắt nguồn từ mô hình phát triển đặc thù của Ấn Độ. Khác với các nền kinh tế Đông Á vốn tập trung vào sản xuất để thu hút lao động, sự tăng trưởng của Ấn Độ chủ yếu dựa vào ngành dịch vụ kỹ năng cao như công nghệ thông tin.
Cách tiếp cận này vô hình trung tạo ra một thị trường lao động mất cân đối: chỉ có một nhóm nhỏ việc làm đòi hỏi trình độ cao, trong khi đại bộ phận người lao động còn lại không có cơ hội phù hợp.
Khảo sát của Công ty TeamLease năm 2024 ước tính chỉ 10% sinh viên tốt nghiệp ngành kỹ thuật tìm được việc trong vòng một năm sau khi ra trường; đến năm 2025, con số này còn chạm mức báo động khi 83% sinh viên kỹ thuật rơi vào tình trạng thất nghiệp.
Theo Đài BBC, làn sóng tự động hóa ở Ấn Độ đang âm thầm thay thế hàng loạt công việc. Tại một văn phòng ở Mumbai, chỉ với 100 nhân viên giám sát, hệ thống robot có thể theo dõi tới 30.000 máy ATM - khối lượng công việc từng cần đến 60.000 nhân viên.
Ngay cả những sinh viên tốt nghiệp từ các trường hàng đầu cũng phải chấp nhận mức lương thấp hơn. Tại khu công nghệ Hinjewadi, nhiều kỹ sư phải xếp hàng ứng tuyển vào các công việc có mức lương chỉ 18.000 rupee/tháng (khoảng 215 USD) - minh chứng rõ nét cho tình trạng "ép giá" lao động.
Bên cạnh đó chất lượng giáo dục cũng là một "nút thắt" nan giải. Số lượng cơ sở đại học đã bùng nổ từ 1.650 đơn vị trong những năm 1990 lên gần 70.000 hiện nay. Đào tạo nghề cũng mở rộng nhanh chóng, với số lượng viện đào tạo công nghiệp tăng vọt gần 300% kể từ những năm 2010.
Tuy nhiên số lượng giảng viên lại không tăng tương ứng, khiến tỉ lệ sinh viên/giảng viên vượt xa tiêu chuẩn khuyến nghị. Hiện các trường tư ở Ấn Độ có trung bình 28 sinh viên trên một giảng viên và các trường công lập là 47 - vượt xa tiêu chuẩn của Hội đồng Giáo dục kỹ thuật toàn Ấn Độ (AICTE) là 15 - 20.
Ngoài ra hệ thống đào tạo nghề dù phát triển nhanh nhưng lại thiếu tính thực tiễn và chưa gắn chặt với nhu cầu doanh nghiệp. Dù Chính phủ đã triển khai nhiều chương trình đào tạo kỹ năng và hỗ trợ việc làm, các chuyên gia cho rằng giải pháp cốt lõi vẫn là nâng cao chất lượng đào tạo và đa dạng hóa kỹ năng.
Quan trọng hơn, các nhà phân tích nhấn mạnh Ấn Độ cần một chiến lược rõ ràng - hướng tới các ngành có khả năng tạo việc làm quy mô lớn, năng suất cao và thu nhập ổn định.
Báo Economic Times nhận định: với dự báo lợi thế dân số của Ấn Độ sẽ đạt đỉnh vào khoảng năm 2030, tốc độ tạo việc làm trong thập niên tới sẽ rất quan trọng trong việc xác định liệu quốc gia này có thể chuyển đổi thành tựu giáo dục thành kết quả kinh tế có ý nghĩa hay không.
Trung Quốc cũng không ngoại lệ
Trung Quốc cũng đang đối mặt với bài toán tương tự. Nhiều năm qua, đất nước tỉ dân đã đầu tư hàng tỉ USD vào giáo dục đại học, đào tạo hàng triệu nhân lực trình độ cao. Mùa hè 2025, số sinh viên nước này tốt nghiệp đạt mức kỷ lục 12,2 triệu người. Tuy nhiên, thị trường lao động không thể hấp thụ hết lượng nhân lực có học hành khổng lồ này.
Theo báo South China Morning Post (SCMP), tỉ lệ thất nghiệp của thanh niên ở các đô thị lớn Trung Quốc đã chạm mức cao nhất (khoảng 16%) trong vài năm qua, phản ánh rõ tình trạng cơ hội việc làm ngày càng thu hẹp do kinh tế tăng trưởng chậm.
Giáo sư Zhu Hong từ Đại học Nam Kinh nhận định: "Thời mà việc vào đại học có thể thay đổi cuộc đời đã qua lâu rồi, việc mất giá của bằng cấp là không thể tránh khỏi".
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận