12/03/2026 08:23 GMT+7

Vì sao nên giám sát nguy cơ rối loạn tâm thần?

Bộ Y tế đang xây dựng dự thảo thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh, trong đó lần đầu tiên đề xuất đưa các yếu tố nguy cơ như áp lực học tập, áp lực công việc, stress kéo dài... vào diện giám sát nguy cơ rối loạn tâm thần.

Vì sao nên giám sát nguy cơ rối loạn tâm thần? - Ảnh 1.

Thạc sĩ tâm lý Hoàng Quốc Lân tư vấn cho bệnh nhân - Ảnh minh họa: D.LIỄU

Dự thảo trên được các chuyên gia cho rằng cần thiết khi tỉ lệ dân số Việt Nam mắc rối loạn tâm thần ngày càng tăng, từ đó giúp ngành y tế và các hệ thống hỗ trợ xã hội phát hiện sớm nguy cơ, can thiệp kịp thời.

Giám sát để phòng ngừa, hỗ trợ kịp thời

Theo Bộ Y tế, Việt Nam hiện có khoảng 15 triệu người (khoảng 14,9% dân số) mắc 10 rối loạn tâm thần thường gặp như trầm cảm, lo âu, rối loạn cảm xúc lưỡng cực…

Riêng các rối loạn tâm thần phổ biến như trầm cảm và rối loạn lo âu, thạc sĩ tâm lý Hoàng Quốc Lân - chuyên gia tâm lý lâm sàng - cho biết ước tính ảnh hưởng khoảng 5-6% dân số mắc phải.

Áp lực học tập, công việc và kinh tế hiện nay ngày càng lớn, đặc biệt ở người trẻ và người lao động đô thị. Nhiều người thường nghĩ đó chỉ là mệt mỏi bình thường nên không để ý nhưng nếu tình trạng căng thẳng kéo dài thì hoàn toàn có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe tâm thần.

Tương tự, ThS Nguyễn Trần Phước - chuyên gia tâm lý - cho hay nhận diện sớm nhóm nguy cơ này giúp triển khai tư vấn tâm lý và hỗ trợ xã hội kịp thời. Nhiều nghiên cứu cho thấy sức khỏe tâm thần tích cực gắn với chất lượng sống tốt hơn, năng suất cao hơn và các mối quan hệ bền vững hơn.

"Vì vậy việc đưa các yếu tố này vào diện giám sát nguy cơ rối loạn tâm thần là hợp lý nếu được hiểu theo nghĩa theo dõi để phòng ngừa. Cách làm này giúp ngành y tế và các hệ thống hỗ trợ xã hội phát hiện sớm nguy cơ để can thiệp kịp thời", ông Phước nói.

Cùng ý kiến, ThS Hoàng Quốc Lân cho rằng nếu có thể theo dõi và phát hiện sớm những người có nguy cơ rối loạn tâm thần thì đó là điều rất cần thiết và nên làm. 

Trong thực tế, các vấn đề về sức khỏe tâm thần thường không xuất hiện đột ngột mà tích tụ dần từ nhiều yếu tố khác nhau.

Ví dụ như stress kéo dài do công việc, học tập, áp lực kinh tế; hay những sang chấn tâm lý như mất người thân, ly hôn, thất nghiệp, bạo lực gia đình, tai nạn… 

Những trải nghiệm này nếu kéo dài có thể khiến một người dần rơi vào trạng thái kiệt sức tâm lý, lo âu hoặc trầm cảm.

Ngoài ra, yếu tố cá nhân cũng rất quan trọng. Có người tính cách nhạy cảm, dễ lo âu, cầu toàn hoặc khó chia sẻ cảm xúc. Khi gặp áp lực kéo dài thì họ dễ bị tổn thương hơn. Bên cạnh đó, những yếu tố xã hội như sự cô lập, thiếu hỗ trợ từ gia đình hoặc cộng đồng, môi trường sống nhiều căng thẳng hay việc lạm dụng rượu bia, chất kích thích cũng có thể làm tăng nguy cơ rối loạn tâm thần.

Cần làm rõ giám sát nguy cơ không phải chẩn đoán bệnh. Nếu thiếu tiêu chí khoa học minh bạch, rất dễ "y học hóa" những phản ứng tâm lý vốn bình thường như căng thẳng hay lo lắng.
ThS NGUYỄN TRẦN PHƯỚC

Giám sát thế nào để không "gắn nhãn" có vấn đề tâm thần?

Dự thảo cũng đề xuất quy định chi tiết thi hành Luật Phòng bệnh, công tác giám sát sẽ được triển khai theo hai hình thức chính gồm giám sát thường xuyên và điều tra định kỳ.

Theo kế hoạch, cứ năm năm sẽ tổ chức các cuộc điều tra quy mô quốc gia và chuyên đề, điều tra chuyên đề định kỳ về sức khỏe tâm thần… Hoạt động giám sát không chỉ diễn ra tại các cơ sở y tế mà còn được mở rộng ra nhiều môi trường khác nhau trong xã hội như trường học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp để theo dõi sức khỏe học sinh, sinh viên.

Đáng chú ý, phạm vi giám sát không chỉ áp dụng với người đã được chẩn đoán mắc bệnh mà còn bao gồm cả những người có yếu tố nguy cơ nhằm phát hiện sớm và can thiệp kịp thời.

Theo ThS Hoàng Quốc Lân, việc giám sát nên được hiểu là phát hiện sớm và hỗ trợ sớm chứ không phải là theo dõi hay "gắn nhãn" ai đó là người có vấn đề tâm thần. 

Trong thực tế nhiều người chịu stress kéo dài nhưng bản thân họ lại không nhận ra. Họ chỉ cảm thấy mệt mỏi, mất ngủ, giảm tập trung hoặc dễ cáu gắt nhưng nghĩ rằng đó là chuyện bình thường của cuộc sống. 

Vì vậy vai trò của những người xung quanh như gia đình, giáo viên, quản lý ở nơi làm việc hay nhân viên y tế cơ sở rất quan trọng trong việc nhận diện sớm những dấu hiệu này.

"Việc giám sát có thể thực hiện bằng những hình thức đơn giản như sàng lọc sức khỏe tâm thần định kỳ tại trường học, nơi làm việc hoặc cộng đồng thông qua các bảng hỏi ngắn về stress, lo âu, trầm cảm. 

Tuy nhiên để hiệu quả cần đào tạo nhân lực tuyến cơ sở nhận biết và tư vấn ban đầu; phát triển các dịch vụ hỗ trợ tâm lý dễ tiếp cận như phòng tham vấn học đường, tư vấn tại doanh nghiệp, cơ sở y tế hoặc đường dây hỗ trợ; đồng thời bảo đảm tính riêng tư và giảm kỳ thị để người dân yên tâm tìm kiếm sự giúp đỡ", ThS Lân nói.

"Giám sát trong sức khỏe tâm thần nên được hiểu là thu thập và phân tích dữ liệu để nhận diện xu hướng nguy cơ, từ đó xây dựng chương trình hỗ trợ phù hợp cho cộng đồng chứ không phải kiểm soát cá nhân. 

Làm tốt truyền thông sẽ giúp xã hội hiểu việc theo dõi nguy cơ giống như "khám sức khỏe định kỳ" để phòng ngừa sớm và hỗ trợ kịp thời chứ không phải để dán nhãn bệnh lý", ông Phước giải thích và cho rằng cách tiếp cận này phù hợp với khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới.

Ai là đối tượng nguy cơ rối loạn tâm thần?

Dự thảo nêu bốn nhóm yếu tố nguy cơ liên quan đến rối loạn tâm thần.

Thứ nhất là yếu tố sinh học và di truyền, gồm tiền sử gia đình có người mắc rối loạn tâm thần; các tổn thương não như chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não; mắc một số bệnh mạn tính cùng các giai đoạn sinh lý đặc biệt...

Thứ hai là yếu tố tâm lý, bao gồm: stress kéo dài; sang chấn tâm lý do mất người thân, ly hôn, thất nghiệp; bạo lực gia đình, xâm hại, tai nạn, thảm họa; đặc điểm nhân cách nhạy cảm, dễ lo âu, tự ti, cầu toàn quá mức; kỹ năng đối phó kém với stress và cảm xúc tiêu cực; ý nghĩ hoặc hành vi tự sát trước đó.

Thứ ba là yếu tố xã hội, như tình trạng cô lập, thiếu hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng; kỳ thị, phân biệt đối xử, nhất là với nhóm yếu thế; môi trường sống không an toàn, có bạo lực, tội phạm, thiên tai; lạm dụng rượu, bia, ma túy, thuốc an thần.

Thứ tư là các yếu tố khác, đáng chú ý là áp lực cao và kéo dài trong học tập, lao động và kinh tế.

Vì sao nên giám sát nguy cơ rối loạn tâm thần? - Ảnh 2.Đề xuất người chịu áp lực công việc vào diện theo dõi rối loạn tâm thần: Bộ Y tế nói gì?

Bộ Y tế đang lấy ý kiến dự thảo thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh. Trong đó, thông tư đề xuất đưa các yếu tố nguy cơ như áp lực học tập, áp lực công việc, stress kéo dài... vào diện giám sát nguy cơ rối loạn tâm thần.

Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất