Thuốc điều trị viêm loét dạ dày và các tác dụng phụ

11/04/2018 07:31 GMT+7

Khi bệnh loét dạ dày tái phát, người bệnh thường ngại đi khám lại và mang đơn cũ đi để mua thuốc sử dụng mà không lường trước được những tác dụng phụ.

Thuốc điều trị viêm loét dạ dày và các tác dụng phụ - Ảnh 1.

Ảnh minh họa. Nguồn: wholelifenutrition.net

Hiện nay, viêm loét dạ dày là căn bệnh đang gia tăng với tốc độ đáng lo ngại, đặc biệt có sự có mặt của vi khuẩn Helicobacter pylori. Giải pháp đầu tiên mà người bệnh cũng như bác sĩ lựa chọn để điều trị viêm loát dạ dày là các phác đồ cho tác dụng giảm đau nhanh chóng. Tuy nhiên, bệnh thường tái phát sau một thời gian dùng thuốc. Người bệnh thường có tâm lý ngại đi khám lại và thường mang đơn cũ đi để mua thuốc và sử dụng mà không lường trước được những tác dụng phụ có thể gặp nếu dùng lâu dài. Dưới đây là các nhóm thuốc trị loét dạ dày - tá tràng và các tác dụng ngoại ý cần lưu ý.

Các thuốc làm băng se và bảo vệ niêm mạc

Sucralfat 

Là một muối nhôm của sulfat disacarid, dùng điều trị loét dạ dày. Cơ chế tác dụng của thuốc là tạo một phức hợp với các chất như albumin và fibrinogen của dịch rỉ kết dính với ổ loét, làm thành một hàng rào ngăn cản tác dụng của acid, pepsin và mật. Sucralfat cũng gắn trên niêm mạc bình thường của dạ dày và tá tràng với nồng độ thấp hơn nhiều so với vị trí loét. Sucralfat còn ức chế hoạt động của pepsin, gắn với muối mật, làm tăng sản xuất prostaglandin E2 và dịch nhầy dạ dày. Thuốc dễ gây ra tình trạng táo bón, ức chế khả năng hấp thu phenytonin và tetracycline, không nên áp dụng đối với người bị suy thận.

Bismuth subcitrat

Bismuth subcitrat có ái lực bao phủ chọn lọc lên đáy ổ loét dạ dày, còn với niêm mạc dạ dày bình thường thì không có tác dụng này. Sau khi uống, kết tủa chứa bismuth được tạo thành do ảnh hưởng của acid dạ dày trên bismuth subcitrat. Ở ổ loét (cả ở dạ dày và tá tràng) nhiều sản phẩm giáng vị của protein được giải phóng liên tục với lượng tương đối lớn do quá trình hoại tử mô. 

Thông qua hình thành phức hợp chelat, những sản phẩm giáng vị này, cùng với tủa thu được từ bismuth subcitrat, tạo một lớp bảo vệ không bị ảnh hưởng của dịch vị hoặc các enzym trong ruột. Rào chắn này cũng có thể ngăn ngừa tác dụng của pepsin trên vị trí loét. Bismuth subcitrat có tác dụng diệt khuẩn Helicobacter pylori. Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) in vitro (trong ống nghiệm) thay đổi trong khoảng 5 - 25 microgram/ml. Trong quá trình sử dụng có thể làm cho phân hoặc lưỡi có màu sẫm hoặc đen, biến đổi màu răng nhưng có hồi phục.

Các hợp chất bismuth trước đây được thông báo có thể gây bệnh não. Liều khuyến cáo (480 mg/ngày) thấp hơn rất nhiều so với liều có thể gây bệnh não. Tuy nhiên, nguy cơ nhiễm độc bismuth có thể tăng nếu liều khuyến cáo vượt quá mức như trong trường hợp quá liều, ngộ độc, uống thuốc trong thời gian dài hoặc uống cùng với những hợp chất khác chứa bismuth. Vì vậy, không khuyến cáo dùng liệu pháp toàn thân (uống) dài hạn với bismuth subcitrat.

Nhóm thuốc kháng acid (antacid)

Một thuốc antacid được gọi là lý tưởng phải mạnh để trung hóa axit dịch vị, dễ uống, ít hấp thu vào máu đồng thời ít tác dụng ngoại ý. Mặc dù có tác dụng nhanh và mạnh nhưng có khuynh hướng gây nhiễm kiềm toàn thân và chứa nhiều natri (hội chứng sữa-kiềm), đồng thời nó gây một trở ngược làm tăng tiết gastrin dẫn đến HCl lại được tiết nhiều hơn trước. Canci carbonat cũng gây nên hội chứng sữa kiềm và canci còn kích thích trực tiếp lên tế bào thành gây tăng tiết HCl. Do đó, các thuốc này hiện nay hầu như không dùng trong điều trị loét tiêu hóa.

Hydroxit nhôm thuốc có xu hướng gây táo bón, khi sử dụng kéo dài nguy cơ cạn kiệt phosphat, kết quả bệnh nhân có biểu hiện mệt mỏi, khó chịu, chán ăn. Cũng cần dùng thận trọng với người có suy tim sung huyết, suy thận, phù, xơ gan và chế độ ăn ít natri và với người mới bị chảy máu đường tiêu hóa. Hydroxit magie có thể làm phân lỏng; thuốc được thải qua thận, do vậy khi sử dụng các chế phẩm có magie cần thận trọng với bệnh nhân suy thận.

Các thuốc kháng thụ thể H2 của histamin

Cimetidin

Cimetidin la thế hệ đầu tiên của thuốc kháng H2, có tác dụng ức chế cạnh tranh với histamin tại thụ thể H2 của tế bào bìa dạ dày, ức chế tiết dịch acid cơ bản (khi đói) ngày và đêm của dạ dày và cả tiết dịch acid được kích thích bởi thức ăn, histamin, pentagastrin, cafein và insulin. Lượng pepsin do dạ dày sản xuất ra cũng giảm theo. Cimetidin dùng lâu có thể có tác dụng phụ như rối loạn tinh thần (ở người già, người suy thận), nhịp tim chậm, hạ huyết áp, tăng nhẹ men gan, vú to ở nam giới, liệt dương...

Cimetidin còn tương tác với nhiều thuốc, bởi vậy khi dùng phối hợp với loại thuốc nào đó đều phải xem xét kỹ. Ngoài ra, trước khi dùng cimetidin điều trị loét dạ dày phải loại trừ khả năng ung thư, vì khi dùng thuốc có thể che lấp triệu chứng gây khó chẩn đoán.

Ranitidin

Ranitidin là thể hệ thứ hai, có tác dụng ức chế cạnh tranh với histamin ở thụ thể H2 của tế bào vách, làm giảm lượng acid dịch vị tiết ra cả ngày và đêm, cả trong tình trạng bị kích thích bởi thức ăn, insulin, amino acid, histamin, hoặc pentagastrin. Ranitidin có tác dụng ức chế tiết acid dịch vị mạnh hơn cimetidin từ 3 - 13 lần nhưng tác dụng không mong muốn (ADR) lại ít hơn, chủ yếu là nhức đầu, chóng mặt, ngứa và khi ngừng thuốc thì hết. Các thuốc thế hệ 3 (nizatidin), thế hệ 4 (famotidin) ra đời có tác dụng mạnh hơn và ít tác dụng phụ hơn cimetidin rất nhiều.

Thuốc ức chế bơm proton

Các thuốc nhóm này bao gồm omeprazole, lansoprazole, pantoprazole, rabeprazole, esomeprazole. Tác dụng ngoại ý ít gặp, chủ yếu là nhức đầu, buồn nôn, rối loạn tiêu hóa. Tuy nhiên, nếu dùng kéo dài cũng có thể gây ra nhiều tác dụng ngoại ý như làm giảm độ axit dạ dày tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn có hại phát triển, giảm hấp thu chất dinh dưỡng như kẽm, sắt, canxi, các vitamin giảm sức đề kháng của cơ thể, thậm chí làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày và các bệnh khác.

Các kháng sinh diệt HP

Bao gồm amoxicilline, metronidazol và tinidazol, clarithromycin. Amoxicilin được sử dụng trong các phác đồ diệt HP và cho hiệu quả cao vì hầu như không có hiện tượng kháng thuốc, tác dụng phụ ít, có thể gặp đi ngoài, viêm đại tràng giả mạc, buồn nôn, nôn... Metronidazol và tinidazol là các kháng sinh thuộc nhóm 5 nitroimidazol, tác dụng phụ của metronidazol khi dùng ngắn ngày có thể buồn nôn, đi ngoài, dị ứng; dùng dài ngày có thể bị giảm cảm giác.

Clarithromycin là kháng sinh thuộc nhóm macrolid, có phổ hoạt động rộng với vi khuẩn Gr(+) và Gr(-). Trong điều trị H. pylori hiện clarithromycin được khuyên dùng trong phác đồ. Clarithromycin có hiệu quả diệt H. pylori cao, tỷ lệ kháng thuốc của vi khuẩn thấp và ổn định hơn rất nhiều metronidazol.

Trên đây là các loại thuốc chủ yếu thường có mặt trong đơn thuốc điều trị viêm loét dạ dày ruột, có vi khuẩn H. pylori hay không có vi khuẩn H. pylori hiện nay đang dùng, có các thông tin về tác dụng ngoại ý khi dùng chúng, bạn có thể tham khảo và thông tin cho người thân dùng để an tâm.

Nguồn: Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn (Bộ Y tế)
Bình luận (0)
    Xem thêm bình luận
    Bình luận Xem thêm
    Bình luận (0)
    Xem thêm bình luận