11/02/2026 10:50 GMT+7

Phân hiệu ĐH quốc tế ở Đông Nam Á: Việt Nam đang đứng ở đâu?

Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Philippines là những quốc gia Đông Nam Á đang tăng tốc thu hút các ĐH quốc tế mở phân hiệu tại quốc gia mình, coi giáo dục ĐH là động lực phát triển kinh tế tri thức.

ĐH quốc tế ở Đông Nam Á - Ảnh 1.

Nhiều phiên thảo luận, kết nối giữa các ĐH Anh với các ĐH Đông Nam Á trong tuần lễ giáo dục Đông Á 2026 - Ảnh: TRỌNG NHÂN

Trong bức tranh sôi động đó, Việt Nam được đánh giá là đất nước có nhiều tiềm năng nhưng vẫn cần vượt qua những rào cản then chốt về pháp lý và bảo đảm chất lượng. Câu hỏi đặt ra là Việt Nam đang đứng ở đâu trong cuộc đua ấy?

Với Việt Nam, điều quan trọng nhất là đảm bảo rằng các bằng cấp do trường ĐH nước ngoài cấp được công nhận và có giá trị thực sự trên thị trường lao động. Đây là yếu tố then chốt để giáo dục xuyên biên giới phát triển bền vững.

Sir STEVE SMITH (đại sứ giáo dục quốc tế của Chính phủ Anh)

Khu SEZ của Indonesia

Những năm gần đây, Indonesia chạy đua thu hút các ĐH quốc tế đến mở phân hiệu (campus) tại nước này.

Điển hình như ĐH Monash Indonesia - phân hiệu của ĐH Monash (Úc) khai trương tại Jakarta từ năm 2021 và hiện đã vận hành ổn định. Phân hiệu này tập trung vào chương trình sau ĐH trong các lĩnh vực chính sách công, dữ liệu và phát triển bền vững.

Một ví dụ khác là ĐH Deakin - Lancaster Indonesia (DLI) tại Bandung, mô hình phân hiệu liên doanh giữa ĐH Deakin (Úc) và ĐH Lancaster University (Anh).

Năm 2025, trường chính thức đón khóa sinh viên đầu tiên tại Bandung, đánh dấu việc mô hình campus liên doanh giữa ĐH Úc và Anh bước sang giai đoạn vận hành thực tế.

Khóa sinh viên đầu tiên này sẽ theo mô hình song bằng, cho phép người học hoàn tất chương trình cử nhân trong ba năm và nhận hai bằng.

Mới đây, trong tuần lễ giáo dục Đông Á (East Asia Education Week) do Hội đồng Anh (British Council) tổ chức đầu tháng 2-2026, chính quyền Indonesia đã có những cuộc tiếp xúc với nhiều ĐH của Anh để tiếp tục thúc đẩy chiến lược mời các "đại bàng giáo dục" về Indonesia làm tổ.

Chia sẻ tại sự kiện, bà Stella Christie - Thứ trưởng Giáo dục ĐH, khoa học và công nghệ Indonesia - nói hiện Indonesia cho phép các ĐH nước ngoài mở phân hiệu thực địa trong một số mô hình không bắt buộc liên kết với đối tác bản địa, đồng thời thiết kế các cơ chế ưu đãi về đầu tư, thủ tục và thuế nếu phân hiệu đặt tại những khu vực được ưu tiên.

Indonesia ưu tiên chọn các ĐH nước ngoài tập trung vào các trường có năng lực nghiên cứu và đào tạo mạnh trong các lĩnh vực chiến lược như STEM, y sinh, dữ liệu, chính sách công và đổi mới sáng tạo. Ngoài ra, bà Stella Christie giới thiệu mô hình đặc biệt, gọi là khu vực kinh tế đặc biệt (SEZ).

Chẳng hạn tại TP mới BSD (Tangerang), Indonesia đang xây dựng mô hình SEZ tích hợp giữa ĐH, doanh nghiệp công nghệ và trung tâm nghiên cứu phát triển với các ưu đãi về thuế, quyền sở hữu vốn nước ngoài và không gian thử nghiệm chính sách.

Các SEZ được kỳ vọng sẽ tạo ra môi trường đủ hấp dẫn để các trường quốc tế không chỉ mở chương trình ngắn hạn mà cân nhắc đầu tư campus và cam kết hiện diện dài hạn.

ĐH quốc tế ở Đông Nam Á - Ảnh 2.

Khuôn viên phân hiệu ĐH Monash tại Indonesia đặt trong khu đô thị mới BSD - Ảnh: MONASH UNIVERSITY

Bước đi nhanh của Malaysia

Malaysia hiện được xem là quốc gia đi đầu ở Đông Nam Á trong việc thu hút phân hiệu ĐH quốc tế với một hệ sinh thái campus nước ngoài phát triển khá hoàn chỉnh.

Nhiều trường ĐH danh tiếng đã hiện diện lâu năm tại đây như các ĐH: Nottingham Malaysia, Southampton Malaysia, Heriot-Watt Malaysia, Monash Malaysia hay Swinburne Sarawak Malaysia. Ngoài đào tạo sinh viên trong nước còn thu hút sinh viên quốc tế đến theo học.

Trong khi đó, Thái Lan và Philippines đang ở giai đoạn nhập cuộc, tập trung hoàn thiện khung pháp lý để mời gọi các ĐH quốc tế mở phân hiệu.

Thái Lan công khai mục tiêu trở thành trung tâm giáo dục khu vực, còn Philippines đã cho phép ĐH nước ngoài mở cơ sở hoặc phân hiệu, đồng thời khuyến khích hợp tác với trường bản địa.

Dù số lượng phân hiệu quốc tế chưa nhiều, hai quốc gia này đang thể hiện rõ quyết tâm không đứng ngoài cuộc đua giáo dục khu vực.

Ông Leighton Ernsberger - Giám đốc Chương trình giáo dục và tiếng Anh khu vực Đông Á của British Council - đánh giá Đông Nam Á hiện đang chứng kiến cuộc đua giữa các quốc gia trong khu vực nhằm thu hút các trường ĐH quốc tế, trong đó có các trường đến từ Anh, mở rộng hiện diện thông qua chương trình liên kết hoặc phân hiệu.

Nhiều nước đang đồng thời điều chỉnh chính sách, cải thiện khung pháp lý và chủ động tiếp cận các trường ĐH uy tín để giành lợi thế trong cuộc đua này.

Ông Leighton Ernsberger cho rằng sự sôi động hiện nay phản ánh một chuyển dịch lớn trong cách các quốc gia nhìn nhận giáo dục ĐH còn là động lực phát triển kinh tế tri thức và nâng cao vị thế quốc gia.

Trong bối cảnh đó những nước có chính phủ chủ động, thông điệp chiến lược rõ ràng và khả năng tạo dựng niềm tin về chất lượng đào tạo sẽ có lợi thế cạnh tranh lớn hơn.

Cơ hội nào cho Việt Nam?

Trao đổi với Tuổi Trẻ, Sir Steve Smith - Đại sứ giáo dục quốc tế của Chính phủ Anh, cựu Chủ tịch Universities UK, tổ chức đại diện cho toàn bộ hệ thống ĐH Anh - nói mở phân hiệu Anh tại Việt Nam đang nằm trong chương trình nghị sự giữa hai bên.

Cả hai bên đều mong muốn điều đó và mối quan hệ giáo dục song phương hiện nay đang rất tích cực.

"Hiện có khoảng 12.200 sinh viên Việt Nam theo học 70 chương trình của 20 trường ĐH Anh đang hoạt động tại Việt Nam theo mô hình giáo dục xuyên biên giới.

Trong 5-10 năm tới tôi kỳ vọng sẽ có thêm nhiều chương trình TNE (các hình thức giáo dục xuyên quốc gia - PV) chất lượng cao và 1-2 phân hiệu ĐH Anh được thành lập tại Việt Nam khi các vấn đề pháp lý được tháo gỡ", ông nói.

Theo Sir Steve Smith, những quốc gia thành công trong vai trò trung tâm giáo dục đều có điểm chung là khung pháp lý rõ ràng và hệ thống bảo đảm chất lượng mạnh. Điểm đặc biệt của Anh là mọi phân hiệu của ĐH Anh ở nước ngoài đều phải đáp ứng cùng một chuẩn chất lượng như tại Anh.

Sir Steve Smith cũng cho rằng quốc gia nào cũng có rào cản riêng. Phổ biến nhất là vấn đề công nhận bằng cấp, quyền sở hữu và vận hành cơ sở đào tạo cũng như khả năng chuyển dòng tài chính hợp pháp.

"Việt Nam có thể xây dựng một hệ sinh thái giáo dục vừa chất lượng cao vừa có mức học phí phù hợp không chỉ cho sinh viên trong nước mà còn cho cả khu vực", ông nhận định.

Bà Hoàng Vân Anh - Giám đốc chương trình giáo dục của Hội đồng Anh Việt Nam - cho rằng Việt Nam hiện có lợi thế về quy mô thị trường và nhu cầu học tập ngày càng cao, đồng thời đang từng bước cụ thể hóa định hướng này thông qua các chiến lược, chính sách cấp quốc gia về hội nhập quốc tế trong giáo dục.

Để nâng cao năng lực "xuất khẩu giáo dục", theo bà, yếu tố then chốt sẽ nằm ở chất lượng và kiểm định.

Do vậy cần bảo đảm chất lượng theo các chuẩn mực quốc tế, trong đó các chương trình đào tạo và cơ sở giáo dục ĐH cần được các tổ chức kiểm định quốc tế độc lập đánh giá. Bà nhấn mạnh kiểm định ở đây không đơn thuần là yêu cầu kỹ thuật mà là cách để xây dựng niềm tin với sinh viên quốc tế và các đối tác nước ngoài.

Mục tiêu dài hạn của Việt Nam

Trở thành điểm đến giáo dục quốc tế của khu vực là định hướng đã được Đảng và Nhà nước đặt ra và cụ thể hóa trong nhiều chiến lược, chính sách lớn về giáo dục và hội nhập quốc tế.

Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo xác định rõ giáo dục ĐH và hội nhập quốc tế là một trong những động lực quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và vị thế quốc gia.

Nghị quyết đặt ra yêu cầu thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác quốc tế trong giáo dục, mở rộng các chương trình liên kết đào tạo, công nhận văn bằng quốc tế và tăng cường trao đổi sinh viên, giảng viên với các đối tác nước ngoài.

Định hướng này tiếp tục được cụ thể hóa trong quyết định 1600 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án hội nhập quốc tế trong giáo dục và đào tạo đến năm 2030 với các mục tiêu rõ ràng như nâng tỉ lệ sinh viên quốc tế học tập tại Việt Nam, gia tăng số chương trình đào tạo được kiểm định quốc tế và thu hút thêm các cơ sở giáo dục ĐH nước ngoài bao gồm cả phân hiệu hoạt động tại Việt Nam.

Nhiều nghị quyết và chương trình hành động khác của Chính phủ cũng nhấn mạnh yêu cầu hình thành những không gian giáo dục quốc tế, nơi hội tụ đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

Phân hiệu ĐH quốc tế ở Đông Nam Á: Việt Nam đang đứng ở đâu? - Ảnh 3.16 trường và gần 700 chương trình đại học Việt Nam đạt chuẩn quốc tế

Số cơ sở giáo dục đại học và chương trình đào tạo đạt chuẩn kiểm định chất lượng, đặc biệt theo chuẩn quốc tế, đều tăng đáng kể so với năm học trước.

Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất