30/11/2025 09:45 GMT+7

Nuôi biển hướng tới quy mô công nghiệp lớn, xanh và bền vững

Nuôi trồng thủy sản trên biển (nuôi biển) đang mở ra hướng phát triển mới, tạo giá trị kinh tế cao, giảm áp lực khai thác ven bờ, góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản cùng hệ sinh thái biển và thúc đẩy tăng trưởng xanh.

nuôi biển - Ảnh 1.

Nuôi biển bằng lồng HDPE ở Khánh Hòa - Ảnh: M.CHIẾN

Ông Ngô Thế Anh - Trưởng Phòng Nuôi trồng thủy sản, Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) - cho biết nuôi biển Việt Nam đang phát triển mạnh tại các tỉnh, thành ven biển với 4 nhóm chính là cá biển, rong biển, nhuyễn thể và tôm hùm.

Đến năm 2024, tổng sản lượng nuôi biển ước đạt 832.000 tấn, tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm giai đoạn 2020-2024 hơn 8,5%/năm.

Các vùng trọng điểm gồm Khánh Hòa, Phú Yên, Kiên Giang, Quảng Ninh..., tạo ra giá trị xuất khẩu khoảng 900 triệu USD/năm.

Những kết quả này là nền tảng, thể hiện rõ tiềm năng phát triển mạnh mẽ của ngành, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu sản phẩm thủy sản chất lượng cao đang gia tăng toàn cầu.

Nuôi biển tiềm năng lớn, thách thức không nhỏ

Theo ông Ngô Thế Anh, Việt Nam có nhiều lợi thế và tiềm năng để phát triển nuôi biển. Về điều kiện tự nhiên, với bờ biển dài hơn 3.200km, nhiều vùng nước sâu, kín gió, rất thuận lợi cho nuôi biển xa bờ và quy mô lớn. Nuôi đa dạng, giá trị kinh tế cao, từ cá biển, nhuyễn thể đến rong biển.

Về chính sách và nhân lực, hệ thống pháp lý đã được củng cố bởi Luật Thủy sản, Luật Quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế biển, cùng đội ngũ người dân ven biển cần cù, sáng tạo và giàu kinh nghiệm.

Thêm vào đó, thị trường tiêu thụ ngày càng mở rộng, cả xuất khẩu lẫn trong nước, đặc biệt nhờ du lịch và nhu cầu sản phẩm xanh, sạch.

Tuy nhiên ngành vẫn đối mặt với nhiều rào cản lớn như hạ tầng kỹ thuật và công nghệ nuôi xa bờ còn hạn chế. Cùng với đó là rủi ro môi trường, dịch bệnh và tác động của biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp và xung đột sử dụng không gian biển giữa các ngành như du lịch, năng lượng, vận tải và nuôi trồng...

Cùng quan điểm, TS Phạm Anh Tuấn - ủy viên thường vụ Hội Thủy sản Việt Nam - cho rằng nuôi biển ven bờ hiện đã vượt quá sức chịu tải của môi trường, tiềm ẩn nhiều rủi ro về dịch bệnh và ô nhiễm môi trường.

Vì vậy cần quy hoạch và tổ chức lại sản xuất ở khu vực ven bờ. Đồng thời đẩy mạnh mở rộng nuôi biển xa bờ theo hướng hiện đại và bền vững.

"Ngoài ra các thể chế, chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, quy trình công nghệ liên quan đến phát triển nuôi biển cũng cần được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp.

Đồng thời cần quan tâm mạnh mẽ và liên tục hơn đến phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nuôi biển, để các tiến bộ công nghệ sớm mang lại hiệu quả thiết thực cho ngành" - ông Tuấn nhấn mạnh.

Nuôi biển hướng tới quy mô công nghiệp lớn, xanh và bền vững - Ảnh 3.

Mô hình nuôi biển ở Quảng Ninh - Ảnh: TRƯỜNG PHÁT

Hướng tới mô hình kinh tế biển đa giá trị

Trong giai đoạn tới, ngành thủy sản Việt Nam tiếp tục xác định nuôi biển là một trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đã được Thủ tướng phê duyệt.

Theo đó định hướng đến năm 2030, diện tích nuôi biển đạt 300.000ha, sản lượng 1,45 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,8 - 2 tỉ USD, và Việt Nam hướng đến mục tiêu trở thành cường quốc nuôi biển trong khu vực và trên thế giới.

Ông Thế Anh cho biết để đạt được mục tiêu này, ngành thủy sản xác định 4 định hướng phát triển lớn.

Một là phát triển công nghiệp quy mô lớn, hình thành các vùng nuôi biển trọng điểm quốc gia, hiện đại hóa hệ thống lồng bè và cơ sở hạ tầng hậu cần.

"Cần đẩy mạnh công nghiệp hóa nuôi biển quy mô lớn thông qua quy hoạch và hình thành các vùng nuôi trọng điểm tại những khu vực có lợi thế.

Đồng thời việc hiện đại hóa hệ thống lồng bè và đầu tư hạ tầng hậu cần chuyên dụng phải được triển khai đồng bộ, nhằm bảo đảm năng lực sản xuất, tối ưu hóa chuỗi cung ứng và nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm thủy sản" - ông Thế Anh nhấn mạnh.

Thứ hai, đầu tư vào công nghệ lõi, tập trung nghiên cứu và sản xuất giống, thức ăn công nghiệp, công nghệ tuần hoàn khép kín và số hóa toàn diện quy trình nuôi.

Thứ ba, hình thành hệ sinh thái nuôi biển tích hợp, liên kết chặt chẽ các khâu trong chuỗi giá trị, từ sản xuất, chế biến, đến tiêu thụ hướng tới mô hình kinh tế biển đa giá trị.

Thứ tư, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, giảm thiểu tác động môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học và thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.

TS Phạm Anh Tuấn đề xuất lộ trình phát triển nuôi biển gồm hai giai đoạn. Giai đoạn 1 (2025 - 2027) tập trung giải quyết các vướng mắc về thể chế, chính sách, tổ chức lại sản xuất nuôi biển vùng ven bờ, hoàn thiện, xây dựng các điều kiện cần thiết như khoa học công nghệ, mô hình nuôi, thị trường... cho việc phát triển nuôi biển ở các vùng biển mở, xa bờ.

Giai đoạn 2 (2028 - 2030), trên cơ sở những kết quả chuẩn bị ở giai đoạn 1, nhân rộng nuôi biển ở các vùng biển mở, xa bờ và tiếp tục hoàn thiện các điều kiện cần thiết cho phát triển nuôi biển bền vững.

Nuôi biển hướng tới quy mô công nghiệp lớn, xanh và bền vững - Ảnh 4.Nuôi biển công nghiệp: Cần nhân lực chất lượng cao

Các chuyên gia cho rằng muốn phát triển nuôi biển công nghiệp bền vững cần phải đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao.

Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất