Hiệp định thương mại đối ứng với Mỹ: sau mức thuế là những 'luật chơi' dài hạn

Từ ngày 24-7, Mỹ áp thuế bổ sung theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 đối với hàng hóa thuộc diện điều chỉnh của 60 nền kinh tế. Việt Nam nằm trong nhóm chịu mức 12,5%, trong khi một số đối tác được áp dụng mức 10%.

Hiệp định thương mại đối ứng với Mỹ - không chỉ là câu chuyện thuế - Ảnh 1.

Người tiêu dùng Việt Nam chọn mua táo Mỹ tại siêu thị MM Mega Market An Phú, TP.HCM - Ảnh: H.K

Tuy nhiên, sau khi loại trừ các mặt hàng được miễn, Bộ Công Thương ước tính mức thuế 12,5% chỉ áp dụng đối với khoảng 37% kim ngạch xuất khẩu hiện nay của Việt Nam sang Mỹ.

Cuộc điều tra của Cơ quan Đại diện thương mại Mỹ (USTR) cũng không kết luận rằng hàng xuất khẩu Việt Nam được sản xuất bằng lao động cưỡng bức. Đối tượng bị xem xét là việc các nền kinh tế đã ban hành và thực thi hiệu quả quy định cấm nhập khẩu hàng hóa được làm toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức hay chưa.

Thuế thay đổi, nhưng luật chơi vẫn còn

USTR hiện công bố toàn văn 10 Thỏa thuận thương mại đối ứng (ART) với Malaysia, Campuchia, El Salvador, Guatemala, Argentina, Bangladesh, Đài Loan, Indonesia, Ecuador và Jordan. Việt Nam chưa thuộc danh sách này.

Tuyên bố chung tháng 10-2025 giữa hai nước mới thiết lập khuôn khổ để tiếp tục hoàn tất một hiệp định thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng. Khuôn khổ Việt Nam - Mỹ khi đó ghi nhận mức thuế đối ứng 20% áp dụng theo Đạo luật Quyền hạn kinh tế khẩn cấp quốc tế của Mỹ (gọi tắt là IEEPA). Nhưng ngày 20-2-2026, Tòa án Tối cao Mỹ kết luận IEEPA không trao cho tổng thống quyền áp thuế quan.

Các khoản thuế dựa trên đạo luật này sau đó bị chấm dứt. Mỹ tiếp đến chuyển sang áp dụng phụ thu tạm thời 10% theo Mục 122 của Đạo luật Thương mại năm 1974. Khi biện pháp có thời hạn 150 ngày này kết thúc, Hoa Kỳ lại sử dụng Mục 301 để áp mức thuế mới liên quan đến chính sách nhập khẩu hàng hóa có yếu tố lao động cưỡng bức.

Diễn biến trên cho thấy mức thuế tại một thời điểm chỉ mang tính tượng trưng để gây sức ép đàm phán, cơ sở pháp lý và con số cụ thể có thể thay đổi khá nhanh. Trong khi đó, các cam kết phi thuế quan mà đối tác chấp nhận trong ART có khả năng tiếp tục tác động lâu dài đến pháp luật, hoạt động quản lý và chi phí tuân thủ của doanh nghiệp.

ART cũng không hoàn toàn giống một hiệp định thương mại tự do (FTA) theo cách hiểu quen thuộc. Trong một FTA truyền thống, các bên thường cùng cắt giảm thuế theo lộ trình và thiết lập tương đối đầy đủ quy tắc xuất xứ, ngoại lệ, tham vấn và giải quyết tranh chấp.

Trong các ART đã công bố, đối tác thường cam kết xóa bỏ hoặc giảm thuế đối với phần lớn hàng hóa Mỹ. Đổi lại, Mỹ chủ yếu cam kết một mức thuế trần, cách đối xử trong những biện pháp thuế tương lai hoặc miễn thuế cho một số nhóm sản phẩm.

"Đối ứng" trong trường hợp này vì vậy không nhất thiết có nghĩa là nghĩa vụ hai bên hoàn toàn đối xứng. Quan trọng hơn, các ART đi xa hơn việc trao đổi thuế suất. Nội dung của chúng bao gồm việc công nhận hoặc tạo thuận lợi cho hàng hóa đáp ứng tiêu chuẩn Mỹ; mở cửa thị trường nông sản; bảo vệ sở hữu trí tuệ; quản lý doanh nghiệp nhà nước và trợ cấp; dòng dữ liệu xuyên biên giới; thuế dịch vụ số; lao động cưỡng bức; môi trường và khoáng sản thiết yếu.

Một số ART còn có các điều khoản về kiểm soát xuất khẩu, sàng lọc đầu tư, chống lẩn tránh thuế và phối hợp khi Mỹ áp dụng biện pháp thương mại hoặc an ninh kinh tế đối với nước thứ ba (đặc biệt, một số ART đã yêu cầu đối tác, sau khi được Hoa Kỳ thông báo, áp dụng biện pháp có tác dụng hạn chế tương đương đối với hàng hóa hoặc dịch vụ của nước thứ ba).

Những cam kết này, dưới góc nhìn tích tực, chúng có thể thúc đẩy cải cách thể chế, tạo thuận lợi cho đầu tư và nâng chuẩn chuỗi cung ứng. Nhưng nếu phạm vi cam kết không được xác định rõ, Việt Nam có thể phải điều chỉnh chính sách đối với dữ liệu, đầu tư hoặc quan hệ kinh tế với nước thứ ba về sau. Đây là vấn đề đặc biệt cần lưu ý khi nền sản xuất Việt Nam hội nhập sâu rộng với chuỗi cung ứng ASEAN và Đông Á, đồng thời Việt Nam đang thực hiện các nghĩa vụ trong WTO, CPTPP, RCEP và nhiều FTA khác.

Đàm phán cả điều kiện, không chỉ mức thuế

Vấn đề cần lưu ý đầu tiên đối với Việt Nam là cần đàm phán sự ổn định và khả năng dự báo của ưu đãi thuế quan. Văn bản cuối cùng cần xác định rõ những loại thuế nào thuộc phạm vi thỏa thuận, cách tính thuế, danh mục hàng hóa được miễn, quy tắc xuất xứ, tiêu chí xác định hành vi trung chuyển hoặc lẩn tránh và các trường hợp Mỹ có thể điều chỉnh hoặc rút lại ưu đãi.

Trước khi áp dụng biện pháp bất lợi với lý do Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ cam kết, cần có thông báo, chứng cứ, thời gian khắc phục và tham vấn thực chất. Việt Nam cũng cần có quyền yêu cầu rà soát lại khi pháp luật hoặc thực tiễn thực thi trong nước đã thay đổi.

Trường hợp lao động cưỡng bức là một ví dụ rõ ràng. Ngày 22-7-2026, Việt Nam ban hành Nghị định 292/2026/NĐ-CP, trong đó cấm nhập khẩu sản phẩm, hàng hóa được khai thác, sản xuất hoặc chế tạo toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức.

Việc ban hành quy định là bước quan trọng, nhưng chưa phải điểm kết thúc. Việt Nam cần nhanh chóng chuyển quy định này thành một quy trình thực thi có thể kiểm chứng: tiêu chí nhận diện rủi ro; cơ chế tiếp nhận thông tin; quy trình xác minh; thẩm quyền của cơ quan hải quan; phối hợp liên ngành; và cách công bố kết quả xử lý.

Đối thoại với USTR vì vậy cần dựa trên cả văn bản pháp luật, kế hoạch thực thi, dữ liệu và những kết quả ban đầu. Việt Nam nên đề nghị Mỹ công nhận những cơ chế có hiệu quả tương đương, thay vì yêu cầu phải sao chép nguyên mẫu tổ chức hoặc thủ tục của Mỹ. 

Đồng thời, thỏa thuận cần quy định tiêu chí và thời hạn cụ thể để xem xét điều chỉnh mức thuế. Nếu điều kiện giảm thuế không rõ ràng, doanh nghiệp sẽ không biết phải đáp ứng đến mức nào và cơ quan nhà nước cũng khó xây dựng kế hoạch thực hiện.

Vấn đề thứ hai là phải giữ một khoảng đệm chính sách hợp lý. Việt Nam không nên tự động áp dụng tương đương mọi biện pháp hạn chế thương mại tương lai của Mỹ đối với nước thứ ba. Mỗi quyết định liên quan đến kiểm soát xuất khẩu, sàng lọc đầu tư, dữ liệu hoặc hạn chế thương mại cần được đánh giá theo pháp luật Việt Nam, lợi ích quốc gia và các nghĩa vụ quốc tế hiện có. Nếu thỏa thuận dành ưu đãi riêng cho phần lớn hàng hóa Mỹ, Việt Nam cũng cần làm rõ cơ sở pháp lý theo quy tắc tối huệ quốc của WTO. Việc một văn bản được đặt tên là "hiệp định thương mại" tự nó không tạo ra ngoại lệ; phạm vi tự do hóa, lộ trình thực hiện và thủ tục thông báo cần được thiết kế phù hợp.

Vấn đề thứ ba dành cho doanh nghiệp là giấy chứng nhận xuất xứ sẽ không còn đủ để chứng minh mức độ tuân thủ. Doanh nghiệp cần biết nguyên liệu đến từ đâu, công đoạn nào được thực hiện tại Việt Nam, điều kiện lao động tại các tầng nhà cung cấp và liệu chuỗi đầu vào có liên quan đến các chủ thể hoặc khu vực có nguy cơ bị kiểm soát hay không. Hợp đồng với nhà cung cấp cần có nghĩa vụ cung cấp dữ liệu, quyền kiểm tra hồ sơ và trách nhiệm khi thông tin không chính xác.

Có thể xem đây là một "hộ chiếu tuân thủ" của hàng hóa, gồm hồ sơ xuất xứ, nguyên liệu, điều kiện lao động, quá trình vận chuyển và các dữ liệu cần thiết để giải trình nhanh. Hồ sơ này không tự động giúp hàng hóa được miễn một biện pháp thuế áp dụng ở cấp quốc gia, nhưng có thể giảm nguy cơ giữ hàng, điều tra, mất đơn hàng hoặc bị ép giảm giá.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chi phí thiết lập hệ thống như vậy không hề nhỏ. Nhà nước và hiệp hội ngành hàng cần cung cấp mẫu hồ sơ, hướng dẫn theo ngành, nền tảng truy xuất dùng chung và cơ chế cảnh báo sớm, thay vì để từng doanh nghiệp tự xoay xở.

Việt Nam nên tiếp tục đàm phán chủ động với Mỹ. Một thỏa thuận tốt không chỉ được đo bằng mức thuế thấp nhất được công bố, mà còn bằng tiêu chí minh bạch, nghĩa vụ có thể thực hiện, cơ chế rà soát hữu hiệu và không gian chính sách được bảo đảm. Điều Việt Nam cần đạt được không chỉ là thu hẹp khoảng chênh 2,5 điểm phần trăm, mà còn là quyền biết trước điều kiện, quyền chứng minh sự tuân thủ và quyền yêu cầu xem xét lại khi thực tế đã thay đổi.

Hiệp định thương mại đối ứng với Mỹ - không chỉ là câu chuyện thuế - Ảnh 2.Trưởng Thương vụ Việt Nam tại Mỹ thông tin về ngành hàng xuất khẩu tỉ USD nguy cơ bị điều tra

Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Mỹ nhấn mạnh xu hướng gia tăng áp dụng các chính sách thương mại đối với hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam.

Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất