
Khu vực thôn Vĩnh Trường (xã Phước Dinh, tỉnh Khánh Hòa) - nơi quy hoạch xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 - Ảnh: ĐỨC CƯỜNG
Ngày 21-1, tại Trường đại học Thái Bình Dương (tỉnh Khánh Hòa) diễn ra hội thảo khoa học "Tác động môi trường của nhà máy điện hạt nhân ven biển Ninh Thuận - thực tế và giải pháp".
Hội thảo do Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam (PetroVietnam - PVN), Tổng công ty CP Dịch vụ Kỹ thuật dầu khí Việt Nam (PTSC), Mạng lưới Chuyên gia năng lượng hạt nhân Việt Nam ở nước ngoài (VietNuc), Công ty CP Xuất bản khoa học và Giáo dục thời Đại (TIMES), Nhà xuất bản Khoa Học - Công Nghệ - Truyền Thông và Trường đại học Thái Bình Dương phối hợp tổ chức.
Nước làm mát nhà máy điện hạt nhân thải ra biển không có chất phóng xạ

3 diễn giả chính của hội thảo "Tác động môi trường của nhà máy điện hạt nhân ven biển Ninh Thuận - thực tế và giải pháp" - Ảnh: NGUYỄN HOÀNG
Tại tọa đàm, tiến sĩ Phạm Tuấn Hiệp - chuyên viên cơ học vật liệu tại Tập đoàn Điện lực Pháp, một trong hai dịch giả cuốn sách Năng lượng hạt nhân, vì sao? - nói rằng vấn đề xã hội lo lắng nhất hiện nay là mức độ an toàn của nhà máy điện hạt nhân, nhất là sự lo ngại về an toàn bức xạ.
Dẫn các nghiên cứu khoa học cũng như thực tiễn từ việc xây dựng và hoạt động của các nhà máy điện hạt nhân ở Pháp, ông Hiệp nói việc Việt Nam chọn khu vực gần biển ở Ninh Thuận để làm 2 nhà máy điện hạt nhân là phù hợp.
Ông khẳng định nước làm mát nhà máy điện hạt nhân được xử lý để tuần hoàn, sau khi đổ ra biển hoàn toàn không có chất phóng xạ, nhiệt độ được kiểm soát theo đúng chuẩn quốc tế nên không ảnh hưởng đáng kể gì đến môi trường, môi sinh, hệ sinh thái. Các công trình nhà máy điện hạt nhân hiện nay đều được sử dụng công nghệ hiện đại để xây dựng nên giảm thiểu rủi ro, đảm bảo an toàn vận hành.
"Việc minh bạch, thông tin kịp thời về dự án điện hạt nhân là việc cực kỳ quan trọng để người dân đồng thuận, ủng hộ" - ông Hiệp nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương nói rằng cần phải truyền thông cho dân hiểu về mức độ an toàn rất cao của nhà máy điện hạt nhân. Cùng với đó, chính quyền phải có cam kết xã hội rất cao với dân vùng dự án, nhất là những giải pháp an cư, lạc nghiệp, học bổng đào tạo cho con em địa phương, phải có quỹ bảo hiểm sức khỏe...
Cần gia nhập công ước quốc tế về bồi thường bổ sung

PGS.TS Nguyễn Nhị Điền - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, Chủ tịch Hội Năng lượng nguyên tử Việt Nam - Ảnh: NGUYỄN HOÀNG
PGS.TS Nguyễn Nhị Điền - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, Chủ tịch Hội Năng lượng nguyên tử Việt Nam - cho rằng vấn đề đảm bảo an toàn trong việc vận hành nhà máy điện hạt nhân đến từ các yếu tố: thiết kế - xây dựng; con người, đơn vị quản lý, địa phương...
Về tác động môi trường, ông khẳng định: "Nếu đảm bảo việc vận hành nhà máy bình thường thì tác động môi trường là không đáng lo, cốt lõi là việc vận hành an toàn".
Trước băn khoăn của một đại biểu về việc thời gian xây dựng nhà máy điện hạt nhân có thể kéo dài tới 10 năm, liệu khi hoàn thành công nghệ có trở nên lạc hậu hay không, ông Trần Sĩ Chương cho rằng nhiều nhà máy điện hạt nhân trên thế giới đã được xây dựng và vận hành suốt hàng chục năm mà không lo công nghệ lỗi thời.
Ở góc nhìn pháp lý, thạc sĩ Lê Anh Vân - Phó hiệu trưởng Trường đại học Thái Bình Dương - nói nhà máy điện hạt nhân cần có "giấy phép xã hội" dựa trên hành lang an toàn và minh bạch.
Hiện Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc về an toàn phát triển điện hạt nhân, tuy nhiên cần xác định rõ nhà máy điện hạt nhân nhân sẽ có cơ chế tích hợp luật bao gồm Luật Năng lượng nguyên tử 2025 và Luật Bảo vệ môi trường 2020.
Cùng với đó, ông kiến nghị Việt Nam nên gia nhập Công ước về bồi thường bổ sung (CSC) để lấp đầy khoảng trống trách nhiệm dân sự.
Việc gia nhập này không chỉ là điều kiện để thu hút chuyển giao công nghệ từ các đối tác chiến lược (như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp), mà còn là cơ chế bảo đảm an toàn tài chính vĩ mô nhằm ứng phó rủi ro.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận