
Lễ ký biên bản ghi nhớ về tăng cường hợp tác trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại của cư dân biên giới và ký giấy chứng nhận bàn giao hồ sơ kết quả dự án viện trợ Việt Nam lập báo cáo nghiên cứu khả thi tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Ảnh: TTXVN
Phía Trung Quốc cũng bày tỏ sẵn sàng mở rộng nhập khẩu hàng hóa Việt Nam, đặc biệt là nông sản chất lượng cao.
Về đầu tư, tác động quan trọng nhất của chuyến thăm không chỉ là tăng quy mô vốn, mà là nâng chất lượng dòng vốn hợp tác. Sau chuyến thăm, đầu tư Trung Quốc vào Việt Nam sẽ có xu hướng dịch chuyển rõ hơn vào các lĩnh vực sản xuất chế biến, công nghiệp hỗ trợ, hạ tầng, logistics, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế xanh và các dự án kết nối lớn.
Việc hai bên trao các biên bản ghi nhớ hợp tác giữa doanh nghiệp trong khuôn khổ chuyến thăm, cùng với định hướng thúc đẩy "3 kết nối" (về lý tưởng niềm tin, lợi ích phát triển và văn hóa, lòng dân) và xây dựng kế hoạch hợp tác giai đoạn 2026 - 2028, sẽ biến quan hệ chính trị tốt đẹp thành các dự án đầu tư cụ thể nhanh hơn và thực chất hơn.
Về triển vọng thời gian tới, tôi cho rằng dòng vốn FDI từ Trung Quốc vào Việt Nam vẫn sẽ duy trì xu hướng tích cực, nhưng theo hướng "tăng có chọn lọc" hơn là tăng nóng.
Minh chứng cho điều này là trong ba tháng đầu năm 2026, Trung Quốc tuy đứng thứ 4 về tổng vốn, nhưng lại dẫn đầu về số dự án đầu tư mới, số giao dịch góp vốn, mua cổ phần. Điều này cho thấy các nhà đầu tư Trung Quốc vẫn rất quan tâm đến Việt Nam.
Việt Nam và Trung Quốc đang đẩy mạnh kết nối hạ tầng đường sắt, với kế hoạch đầu tư các tuyến đường sắt tốc độ cao Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng, Lạng Sơn - Hà Nội. Sự kết nối giao thông đường sắt sẽ mang lại lợi ích kinh tế, thương mại rất lớn và mang tính hai chiều.
Về lợi ích kinh tế - thương mại đối với Việt Nam, điều lớn nhất là kéo giảm chi phí logistics và thời gian vận chuyển. Hợp tác đường sắt Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa rất lớn trong việc giảm chi phí logistics, rút ngắn thời gian vận chuyển, nâng cao năng lực cạnh tranh hàng hóa, đồng thời giảm áp lực ùn tắc tại cửa khẩu đường bộ. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với hàng nông sản, hàng công nghiệp, container xuất nhập khẩu và các chuỗi sản xuất đang cần vận hành nhanh, ổn định và chi phí thấp hơn.
Về phía Trung Quốc, lợi ích cũng rất rõ. Những tuyến đường sắt này sẽ giúp các địa phương phía nam và tây nam Trung Quốc tăng kết nối với thị trường Việt Nam, với hệ thống cảng biển phía Bắc Việt Nam và rộng hơn là với ASEAN.
Nếu được triển khai đúng tiến độ và đồng bộ với hạ tầng cửa khẩu, cảng biển, logistics và khu công nghiệp, thì kết nối đường sắt Việt Nam - Trung Quốc không chỉ là câu chuyện giao thông, mà có thể trở thành một đột phá chiến lược trong hợp tác kinh tế song phương giai đoạn tới.
Mắt xích ngày càng quan trọng
Theo PGS.TS Phùng Thế Đông, Việt Nam có nhiều yếu tố để hưởng lợi mạnh từ mô hình "Trung Quốc + 1" - từ vị trí địa lý sát Trung Quốc, thuận lợi kết nối chuỗi cung ứng, môi trường chính trị ổn định, độ mở kinh tế cao và đặc biệt là dòng FDI vẫn đang tập trung mạnh vào công nghiệp chế biến, chế tạo.
Thêm vào đó, các tuyến đường sắt sẽ mở ra không gian phát triển mới cho các hành lang kinh tế, khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu và các trung tâm logistics.
Đồng thời Việt Nam cũng đang định hướng kết nối mạng lưới này với các hành lang vận tải Á - Âu qua Trung Quốc, tức là không chỉ phục vụ giao thương với Trung Quốc mà còn giúp đa dạng hóa tuyến vận tải, giảm phụ thuộc tương đối vào đường biển và nâng vị thế của Việt Nam lên như một mắt xích sản xuất bổ sung ngày càng quan trọng trong tái cấu trúc chuỗi cung ứng khu vực.
Ông Nguyễn Văn Toàn (Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài):
Việt Nam cần tính đến xây dựng các khu kinh tế biên mậu
Những năm gần đây, quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam - Trung Quốc đều có những bước tăng trưởng tích cực với nhiều dấu ấn. Điều này càng có ý nghĩa khi chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sang thăm chính thức Trung Quốc tiếp tục khẳng định quan hệ hai nước nâng tầm chiến lược cao nhất để hai bên cùng làm sâu sắc thêm, hiện thực hóa các hợp tác, khẳng định lập trường của Việt Nam làm bạn với tất cả các nước.
Về thương mại hai chiều, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam với mức tăng hằng năm khá mạnh. Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất trong ASEAN với Trung Quốc và là cầu nối cho hàng hóa Trung Quốc tới ASEAN. Do đó, từ các hợp tác cấp cao, đặc biệt trong hạ tầng giao thông, thanh toán... sẽ giúp kết nối thương mại, dịch vụ hai nước hiệu quả hơn.

Nguồn: Cục Hải quan, Cục Đầu tư nước ngoài - Đồ họa: TUẤN ANH
Tuy nhiên, hiện Trung Quốc đang làm rất tốt về hạ tầng ở các cửa khẩu, đặt ra yêu cầu chúng ta cần chú trọng đầu tư, nâng cấp hạ tầng, công nghệ ở các cửa khẩu để việc giao thương, vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ thuận tiện hơn.
Ví dụ như cần tính đến xây dựng các khu kinh tế biên mậu, không chỉ để giao thương trao đổi hàng hóa hai nước mà còn là nơi xây dựng các khu sản xuất, sơ chế hàng hóa đưa đi xuất khẩu với hàm lượng giá trị cao. Bên phía bạn đã có những đầu tư hạ tầng, công nghệ rất tốt dọc tuyến cửa khẩu, vì vậy chúng ta cũng cần ưu tiên đầu tư tương xứng để hợp tác tốt hơn.
Với quan hệ đầu tư, ba năm qua, Trung Quốc vươn lên là nhà đầu tư hàng đầu ở Việt Nam, khác hẳn với 10 năm trước. Do đó, với định hướng đầu tư toàn cầu, Việt Nam là một trong những điểm đến quan trọng khi các nhà đầu tư Trung Quốc quan tâm nhiều hơn vào hoạt động đầu tư vào Việt Nam.
Nếu như trước đây việc đầu tư từ Trung Quốc có những bất cập về tiến độ, môi trường... nhưng hiện nay việc đầu tư đã được chọn lọc. Điều này có được là nhờ hai nước nâng tầm quan hệ đầu tư với chính sách minh bạch và chọn lọc hơn, khuyến khích hiệu quả đầu tư hơn, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, sử dụng lao động, tài nguyên, lan tỏa công nghệ và công nghiệp phụ trợ, tuân thủ pháp luật...
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận