
Vỏ chai nhựa sau sử dụng được thu gom, phân loại và tái chế tại Nhà máy công nghệ cao DUYTAN Recycling (thành viên của PRO Việt Nam) - Ảnh: TL
Sau hơn hai năm thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR), câu chuyện không còn dừng lại ở việc thu gom được bao nhiêu tấn bao bì hay hoàn thành nghĩa vụ tái chế. Với nhiều doanh nghiệp, EPR đang dần bước sang một giai đoạn mới.
EPR bước vào lộ trình thực thi toàn diện và minh bạch
Tại TH true MILK, việc thực hiện EPR được bắt đầu ngay từ khâu thiết kế sản phẩm. Đại diện doanh nghiệp cho biết đơn vị liên tục nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật nhằm giảm sử dụng nguyên liệu như nhựa, giấy; tăng khả năng tái chế; ưu tiên vật liệu thân thiện với môi trường, đồng thời thúc đẩy hoạt động thu gom và tái chế sau tiêu dùng.
"Chúng tôi ưu tiên sử dụng vật liệu có khả năng tái chế cao; giảm định lượng vật liệu cho bao bì và các cấu phần của bao bì như chai nhựa, thùng carton, màng co, nhãn dán…", đại diện doanh nghiệp cho biết.

Vỏ hộp sữa TH true MILK được thu gom, phân loại để tái chế, hướng tới mô hình kinh tế tuần hoàn - Ảnh: TL
Dù nhiều doanh nghiệp vẫn nhắc đến áp lực chi phí hay năng lực triển khai, đại diện TH true MILK cho rằng cần nhìn nhiều hơn vào những cơ hội mà EPR mang lại.
"EPR sẽ tạo động lực để doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo hơn, đồng thời buộc doanh nghiệp phải minh bạch và có trách nhiệm hơn, bởi đây sẽ là một phần của năng lực cạnh tranh trong tương lai. Khi hệ thống EPR vận hành hiệu quả, chất thải sẽ trở thành tài nguyên và nguồn nguyên liệu đầu vào quan trọng, góp phần giảm phụ thuộc vào tài nguyên nguyên sinh", đại diện doanh nghiệp chia sẻ.
Nếu TH true MILK bắt đầu từ thiết kế bao bì và vật liệu, thì tại Mondelez Kinh Đô, hành trình thực thi EPR cũng được xây dựng trên chiến lược cải tiến bao bì và phối hợp với các đối tác trong chuỗi giá trị nhằm thúc đẩy hệ sinh thái tuần hoàn - đồng thời được đẩy mạnh hơn nữa nhờ chuyển đổi số toàn diện trong vận hành sản xuất.
Những năm gần đây, Mondelez Kinh Đô đã số hóa toàn diện hoạt động quản lý chất lượng, an toàn, vận hành và bảo trì. Việc tự động hóa hệ thống dữ liệu giúp nâng cao năng lực giám sát và ra quyết định chính xác, kịp thời, giảm hao hụt nguyên vật liệu, giảm lãng phí bao bì và thực phẩm trong toàn bộ quy trình, đồng thời tối ưu tiêu thụ năng lượng, nước và vật liệu đầu vào, qua đó góp phần trực tiếp vào mục tiêu giảm phát thải.
"Nền tảng số cho phép cải tiến liên tục trên toàn nhà máy, từ chất lượng sản phẩm, an toàn lao động đến hiệu suất thiết bị tổng thể. Đây chính là cách chúng tôi biến dữ liệu thành hành động và biến hành động thành tác động bền vững", đại diện Mondelez Kinh Đô cho biết.
Theo nhiều doanh nghiệp, EPR không đơn thuần là nghĩa vụ tuân thủ mà đang trở thành động lực đổi mới và cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh. Cơ chế này cũng thúc đẩy doanh nghiệp thiết kế bao bì theo hướng dễ thu gom, tái chế hơn, đồng thời tạo ra sự liên kết giữa nhà sản xuất, đơn vị tái chế và hệ thống phân phối nhằm xây dựng hệ sinh thái tuần hoàn.
Thông qua các sáng kiến hợp tác như PRO Việt Nam, doanh nghiệp có thêm cơ hội chia sẻ kinh nghiệm, tối ưu nguồn lực và thúc đẩy các giải pháp mang tính hệ thống cho toàn ngành.
Dữ liệu và công nghệ trở thành "mắt xích" mới
Ở góc độ chuyên gia, ông Phạm Phú Ngọc Trai, chủ tịch Liên minh Tái chế bao bì Việt Nam (PRO Việt Nam), nhận định kinh tế tuần hoàn không còn là khẩu hiệu mà đã trở thành yêu cầu thực tiễn của mô hình tăng trưởng mới, tăng trưởng phải đi cùng hiệu quả sử dụng tài nguyên, trách nhiệm môi trường và năng lực cạnh tranh dài hạn.
Theo ông Trai, thành công của EPR trong giai đoạn tới không chỉ được đo bằng số lượng bao bì được tái chế mà còn phụ thuộc vào khả năng kiểm soát dữ liệu, truy xuất nguồn gốc, quản lý chi phí và mức độ minh bạch của toàn bộ hệ thống.
Trong điều kiện đó, ứng dụng khoa học công nghệ được xem là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả thực hiện EPR. PRO Việt Nam đang định hướng đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý dữ liệu, theo dõi dòng vật liệu, truy xuất nguồn gốc và giám sát hoạt động tái chế.
Đây được xem là "chìa khóa" để nâng cao hiệu quả quản lý, đồng thời tăng tính minh bạch của hệ thống EPR trong thời gian tới.
Cùng với đó, liên minh cũng thúc đẩy nghiên cứu các giải pháp vật liệu và mở rộng mô hình thu gom, tái chế đối với những loại bao bì khó xử lý như nhựa mềm hay bao bì đa vật liệu. Việc phát triển vật liệu tái chế sau tiêu dùng (PCR) được kỳ vọng sẽ góp phần hình thành vòng tuần hoàn khép kín cho bao bì sau sử dụng, giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nguyên sinh.

Ông Phạm Phú Ngọc Trai, chủ tịch PRO Việt Nam (thứ hai từ trái sang), cùng các đại biểu trải nghiệm sản phẩm tái chế của các đơn vị thành viên. Theo ông, công nghệ và dữ liệu sẽ quyết định hiệu quả thực thi EPR trong giai đoạn tới - Ảnh: Hữu Hạnh.
Ở góc độ quản lý, ông Hồ Kiên Trung, phó cục trưởng Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho rằng khoa học công nghệ và chuyển đổi số đang mở ra nhiều cơ hội mới cho việc thực thi EPR.
Tuy vậy ông Hồ Kiên Trung lưu ý hiệu quả của EPR không chỉ phụ thuộc vào doanh nghiệp hay cơ quan quản lý mà còn gắn chặt với năng lực hạ tầng thu gom, sự phát triển của ngành tái chế, việc phân loại chất thải tại nguồn và sự tham gia của cộng đồng. Đây là những mắt xích quyết định khả năng vận hành của hệ thống tuần hoàn trong dài hạn.
"Hành trình Net Zero của Việt Nam là một hành trình dài. Trên hành trình ấy, không ai có thể đi một mình, và cũng không ai có thể chỉ đứng ngoài để quan sát. Tôi tin rằng nếu Nhà nước, doanh nghiệp, đối tác tái chế, viện, trường, tổ chức quốc tế,… cùng hành động trên tinh thần đó, chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng một hệ thống bao bì tuần hoàn vững mạnh hơn, đóng góp thiết thực cho tăng trưởng xanh và lộ trình Net Zero của quốc gia", chủ tịch PRO Việt Nam nhấn mạnh.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận