
Khi tuyển người học hoặc người đi làm, quan trọng nhất với chúng ta là họ dùng được tiếng Anh đến đâu ở thời điểm hiện tại, thay vì chỉ đánh giá qua tấm bằng của ngày hôm qua - Ảnh minh họa AI
Để đủ điều kiện ngoại ngữ đầu vào tiến sĩ, tôi đã thi đạt một chứng chỉ tiếng Anh quốc tế được Bộ Giáo dục và Đào tạo chấp nhận. Nhưng một đồng nghiệp nhiều kinh nghiệm đã khuyên tôi học văn bằng hai ngôn ngữ Anh vì tấm bằng thuận tiện khi đi học, tuyển dụng và không lo hết hạn.
Nhưng tôi băn khoăn rằng ngoại ngữ dù học bài bản, nếu ít sử dụng thì vài năm sau cũng có thể bị não bộ "cất sâu vào ngăn kéo". IELTS khuyến nghị sử dụng kết quả trong hai năm vì năng lực ngôn ngữ có thể suy giảm khi thiếu thực hành. Vậy tại sao chứng chỉ cần cập nhật, còn tấm bằng cũ vẫn có thể chứng minh trình độ hiện tại?
Chứng minh năng lực của người sử dụng tiếng Anh
Ở Việt Nam, nhiều ngành học và công việc ít dùng tiếng Anh vẫn yêu cầu ngoại ngữ khi tuyển sinh, tốt nghiệp hoặc tuyển dụng. Khi tiếng Anh thành điều kiện hồ sơ thì người học sẽ chọn cách thuận tiện nhất.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, người học văn bằng thứ hai ngôn ngữ Anh hệ chính quy và vừa làm vừa học tăng từ 10.613 năm 2023 lên 17.113 năm 2025.
Chính sách của chúng ta cũng tạo lợi thế cho văn bằng này. Nghị định 93/2026/NĐ-CP về tuyển dụng nhà giáo cho phép người có bằng chuyên ngành ngoại ngữ phù hợp được miễn phần thi ngoại ngữ.
Nhưng liệu tấm bằng từ mười năm trước có còn chứng minh được năng lực của ngày hôm nay? Cơ chế miễn thi vì thế cần phân biệt được thành quả học tập trong quá khứ với khả năng sử dụng ngoại ngữ hiện tại.
Tuy vậy một số doanh nghiệp lại yêu cầu năng lực tiếng Anh cụ thể. Năm 2026, Vietnam Airlines yêu cầu ứng viên tuyển tiếp viên có chứng chỉ còn hiệu lực, chấp nhận IELTS từ 5.0 hoặc TOEIC nghe, đọc từ 550 điểm.
Trong đợt tuyển dụng VIII-2026, Vietcombank đã dùng IELTS 7.0 hoặc TOEIC 785 làm một trong những điều kiện miễn thi chuyên môn cho sinh viên tốt nghiệp xuất sắc.
Điều đó cho thấy một số doanh nghiệp không nhất thiết phải yêu cầu thêm bằng đại học miễn là có thể chứng minh năng lực của người sử dụng tiếng Anh.
Đại học Oxford (Anh) cho phép ứng viên sau đại học được xin miễn chứng chỉ nếu đã hoàn thành chương trình toàn thời gian được giảng dạy, đánh giá hoàn toàn bằng tiếng Anh trong hai năm trước khi nhập học.
Người thường xuyên dùng bốn kỹ năng trong hai năm làm việc tại quốc gia chủ yếu nói tiếng Anh cũng có thể xin miễn chứng chỉ theo điều kiện của trường. Như vậy, Oxford xem xét cả thời gian và môi trường thực hành, thay vì chỉ đánh giá văn bằng ngoại ngữ.
Với bậc thạc sĩ, Đại học Mahidol (Thái Lan) có cách tiếp cận khác. Chương trình thạc sĩ Vật lý trị liệu lâm sàng năm 2025 không yêu cầu điểm tiếng Anh khi đăng ký, nhưng trước khi tốt nghiệp phải đạt IELTS 5.0 (nói và viết từ 5.0) hoặc bài thi được họ chấp nhận.
Nhờ đó, học viên có thời gian cải thiện ngoại ngữ trong quá trình học. Tuy nhiên đây chỉ là quy định của một chương trình cụ thể và không áp dụng cho mọi ngành học.
Trong tuyển dụng công chức, Canada xác định yêu cầu ngôn ngữ theo từng vị trí việc làm. Vị trí cần cả tiếng Anh và tiếng Pháp sẽ được phân mức đọc, viết, giao tiếp; kết quả đánh giá sẽ có giá trị năm năm khi bổ nhiệm mới và có ngoại lệ ở vị trí đang đảm nhiệm.
Cần xem xét lại cơ chế dùng văn bằng thay cho kết quả đánh giá
Dù bối cảnh khác Việt Nam, nhưng nguyên tắc đáng tham khảo ở đây là chúng ta nên xác định yêu cầu ngoại ngữ từ nhiệm vụ thực tế.
Từ đó, Việt Nam nên rà soát yêu cầu tiếng Anh theo từng vị trí việc làm bất kể khu vực công hay tư nhân. Chúng ta cũng cần xem xét lại cơ chế dùng văn bằng thay cho kết quả đánh giá.
Đơn vị tuyển dụng cần xác định nhiệm vụ đọc tài liệu, viết báo cáo hay giao tiếp bằng tiếng Anh, rồi thiết kế bài kiểm tra tương ứng.

Nhiều trường quảng bá văn bằng 2 ngôn ngữ Anh có thể dùng thay chứng chỉ ngoại ngữ, từ miễn thi công chức đến đáp ứng chuẩn đầu vào thạc sĩ - Ảnh minh họa AI
Với vị trí dùng ngoại ngữ thường xuyên, có thể kết hợp chứng chỉ, phỏng vấn và bài thực hành; với vị trí ít dùng, nên xem tiếng Anh là lợi thế, đồng thời tạo điều kiện để bồi dưỡng, nâng cao năng lực.
Còn nơi gần như không cần tiếng Anh thì không nên dùng chứng chỉ để đánh giá hồ sơ năng lực. Bằng cử nhân Ngôn ngữ Anh có thể có giá trị lâu dài vì xác nhận chương trình đã hoàn thành, nhưng không bảo đảm năng lực ngoại ngữ suốt đời của người học.
Đối với đào tạo sau đại học, chuẩn ngoại ngữ cần được gắn với nghiên cứu của người học. Người dự tuyển tiến sĩ có thể tóm tắt bài báo chuyên ngành hoặc trao đổi đề cương bằng tiếng Anh, thay vì chỉ nộp chứng chỉ. Ở bậc thạc sĩ, trường có thể đánh giá tiếng Anh đầu vào, tổ chức bồi dưỡng rồi kiểm tra khi tốt nghiệp.
Thông tư 53/2026 của Bộ Giáo dục và đào tạo áp dụng cho các khóa thông báo tuyển sinh từ ngày 1-1-2027 cũng đã giao cho cơ sở đào tạo quy định yêu cầu ngoại ngữ phù hợp với người học của mình.
Với văn bằng hai ngôn ngữ Anh, Bộ Giáo dục và Đào tạo nên kiểm tra, hậu kiểm ngẫu nhiên đối với một mẫu người đã tốt nghiệp, đối chiếu tín chỉ được công nhận, dữ liệu học tập và kết quả bốn kỹ năng; đồng thời công bố kết quả kiểm định theo trường.
Nếu chuẩn công bố chênh lệch lớn với năng lực thực tế, thì cần xác định trách nhiệm rõ ràng của cơ sở đào tạo và đơn vị khảo thí. Bởi nếu không kiểm soát được chất lượng các kỳ thi, chúng ta có nguy cơ tạo thêm thủ tục và một thị trường chứng chỉ mới.
Học thêm ngoại ngữ, kể cả qua văn bằng hai, luôn đáng được trân trọng. Tuy nhiên bằng cấp chỉ ghi nhận thành quả lúc tốt nghiệp, còn năng lực phải được duy trì bằng thực hành.
Khi tuyển người học hoặc người đi làm, quan trọng nhất với chúng ta là họ dùng được tiếng Anh đến đâu ở thời điểm hiện tại, thay vì chỉ đánh giá qua tấm bằng của ngày hôm qua.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận