
Người dân làm thủ tục liên quan đến đất đai - Ảnh tư liệu Tuổi Trẻ
Ngày 23-8-2026, Quốc hội thông qua Luật số 15/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, có hiệu lực từ ngày 1-3-2027.
Đáng chú ý, khoản 11 Điều 17 được sửa đổi, bổ sung, xác định trong lĩnh vực quản lý đất đai các trường hợp thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, trong đó có hành vi "cấp, không cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trái pháp luật".
Không phải cứ không được cấp sổ là được bồi thường
Điểm mới nằm ở việc pháp luật ghi nhận rõ hành vi "không cấp" giấy chứng nhận trái pháp luật. Như vậy, trách nhiệm của cơ quan nhà nước không chỉ được đặt ra khi cấp sai hoặc thu hồi sai giấy chứng nhận, mà việc không cấp cũng phải có căn cứ pháp luật.
Quy định mới không có nghĩa rằng cứ không được cấp giấy chứng nhận thì Nhà nước phải bồi thường.
Muốn phát sinh trách nhiệm bồi thường phải xác định được việc không cấp là trái pháp luật, đồng thời đáp ứng các điều kiện của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và có thiệt hại thuộc phạm vi được bồi thường.
Do đó cần làm rõ bốn vấn đề: người sử dụng đất có đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận hay không; cơ quan có thẩm quyền có căn cứ pháp luật để từ chối hay không; việc không cấp có trái pháp luật hay không; và hành vi đó có gây thiệt hại thực tế hay không.
Luật Đất đai năm 2024 quy định cụ thể các trường hợp được cấp và không được cấp giấy chứng nhận. Vì vậy, phải căn cứ vào nguồn gốc, quá trình sử dụng, giấy tờ về quyền sử dụng đất, hiện trạng và điều kiện pháp luật của từng trường hợp.
Người dân cần chứng minh những gì?
Thứ nhất, điều kiện được cấp giấy chứng nhận. Người dân cần lưu giữ giấy tờ về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng, giấy tờ chuyển nhượng, kê khai đăng ký đất đai, chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính và các tài liệu liên quan. Đây là cơ sở để xác định quyền và điều kiện được cấp giấy chứng nhận.
Thứ hai, hành vi không cấp là trái pháp luật. Không phải mọi trường hợp chậm cấp, từ chối cấp hoặc yêu cầu bổ sung hồ sơ đều là hành vi trái pháp luật. Người dân cần xác định rõ căn cứ mà cơ quan có thẩm quyền sử dụng để không cấp giấy chứng nhận và căn cứ đó có phù hợp pháp luật hay không.
Việc xác định hành vi trái pháp luật phải được đặt trong cơ chế của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, gắn với văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường theo quy định.
Thứ ba, thiệt hại thực tế và quan hệ nhân quả. Việc không cấp giấy chứng nhận trái pháp luật phải gây ra thiệt hại thuộc phạm vi được bồi thường và phải có mối quan hệ giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hại. Vì vậy, người dân cần lưu giữ tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế, không chỉ nêu chung rằng việc không có sổ đã "gây thiệt hại".
Khi cho rằng việc không cấp giấy chứng nhận là trái pháp luật, người sử dụng đất cần lưu giữ toàn bộ hồ sơ đã nộp, giấy tiếp nhận, phiếu hẹn, văn bản yêu cầu bổ sung, văn bản trả lời hoặc từ chối giải quyết cùng tài liệu chứng minh nguồn gốc và quá trình sử dụng đất.
Đồng thời cần xác định rõ cơ quan có thẩm quyền, căn cứ pháp luật được viện dẫn để không cấp và thiệt hại thực tế phát sinh.
Người dân cũng cần phân biệt giữa quyền yêu cầu cấp giấy chứng nhận và quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Đây là hai vấn đề có liên quan nhưng không đồng nhất.
Việc có quyền được cấp giấy chứng nhận chưa đồng nghĩa đương nhiên có quyền được bồi thường.
Luật số 15/2026/QH16 có hiệu lực từ ngày 1-3-2027. Quy định mới đặt ra yêu cầu rõ hơn đối với cơ quan quản lý đất đai: không chỉ cấp đúng, thu hồi đúng mà việc không cấp giấy chứng nhận cũng phải đúng pháp luật.
Đối với người dân, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền lợi khi đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận nhưng bị không cấp trái pháp luật và hành vi đó gây thiệt hại thuộc phạm vi được bồi thường theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận