Từ bằng cấp đến năng lực thực chiến

Từ giáo dục nghề nghiệp, đại học đến sau đại học, tất cả đều phải trả lời được những câu hỏi căn bản: Người học biết gì, làm được gì, tạo ra giá trị gì và có khả năng tiếp tục phát triển ra sao?

Từ bằng cấp đến năng lực thực chiến - Ảnh 1.

Bạn trẻ làm việc tại FPT trong Khu công nghệ cao TP.HCM - Ảnh: QUANG ĐỊNH

Tại buổi làm việc với ngành nội vụ ngày 8-7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu xây dựng hệ thống phát triển kỹ năng quốc gia, chuyển tư duy từ "bằng cấp" sang "nghề nghiệp", đào tạo theo chuẩn kỹ năng và kết quả đầu ra. 

Chỉ đạo này đặt ra yêu cầu căn bản: người lao động phải được đánh giá bằng năng lực thực thi, khả năng thích ứng và giá trị tạo ra, thay vì chủ yếu dựa vào văn bằng.

Một nghịch lý kéo dài trên thị trường lao động là số người có bằng đại học, sau đại học ngày càng tăng, nhưng doanh nghiệp và cơ quan nhà nước vẫn thiếu người thạo việc, có khả năng giải quyết những vấn đề thực tiễn. 

Sự gia tăng về số lượng văn bằng chưa bảo đảm năng lực lao động được nâng lên tương ứng, trong khi quá trình đào tạo nhiều nơi vẫn nặng về thi cử, tích lũy tín chỉ và hoàn thiện hồ sơ.

Chuyển từ tư duy "bằng cấp" sang "nghề nghiệp" vì thế không chỉ là điều chỉnh tiêu chí tuyển dụng, mà đòi hỏi thay đổi đồng bộ từ giáo dục, sử dụng lao động đến cơ chế đánh giá và đãi ngộ con người.

Khi hồ sơ lấn át năng lực

Truyền thống hiếu học là một giá trị tốt đẹp nhưng khi tuyển dụng, xếp lương và bổ nhiệm còn nặng về hồ sơ, hiếu học dễ biến thành cuộc đua bằng cấp. 

Từ phổ thông đến đại học, không ít người tập trung vào điểm số, tín chỉ và tấm bằng, trong khi tư duy phản biện, kỹ năng thực hành, hợp tác và giải quyết vấn đề chưa được phát triển tương xứng.

Vấn đề không nằm ở bản thân văn bằng, bởi văn bằng vẫn cần để chứng nhận một quá trình đào tạo. Đáng lo là chủ nghĩa bằng cấp: dùng văn bằng thay cho đánh giá năng lực và kết quả công việc. 

Khi một văn bằng bổ sung đem lại lợi thế hành chính lớn hơn thành tích thực tế, con người sẽ đầu tư vào hồ sơ nhiều hơn năng lực, gây lãng phí nguồn lực và khiến người có tay nghề nhưng thiếu văn bằng phù hợp khó được trọng dụng.

"Nhất nghệ tinh" trong bối cảnh mới

"Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh" thể hiện tinh thần thực học, thực nghiệp: giá trị nghề nghiệp của con người được tạo nên từ khả năng làm chủ một lĩnh vực và tạo ra sản phẩm có ích.

Tuy nhiên "nhất nghệ" không có nghĩa là chỉ biết một thao tác hoặc tự giới hạn trong một nghề cố định. Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, chữ "tinh" phải bao gồm chuyên môn sâu, kỹ năng thực hành, tư duy hệ thống, năng lực sử dụng công nghệ và khả năng tự học.

Người làm kỹ thuật không chỉ cần biết vận hành máy móc mà còn phải đọc dữ liệu, nhận diện rủi ro và cải tiến quy trình. 

Công chức không chỉ thuộc quy định mà phải hiểu vấn đề của người dân, biết phân tích chính sách và chịu trách nhiệm về kết quả xử lý. Giảng viên không thể chỉ truyền đạt kiến thức mà còn phải biết tổ chức hoạt động học tập, đánh giá năng lực và gắn đào tạo với thực tiễn.

Chuyển từ bằng cấp sang nghề nghiệp không phải chuyển từ đại học sang học nghề, càng không phải coi kỹ năng chỉ thuộc về giáo dục nghề nghiệp. 

Từ giáo dục nghề nghiệp, đại học đến sau đại học, tất cả đều phải trả lời được những câu hỏi căn bản: Người học biết gì, làm được gì, tạo ra giá trị gì và có khả năng tiếp tục phát triển ra sao?

Kinh nghiệm quốc tế: kỹ năng phải được kiểm chứng trong thực tế

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy phát triển nhân lực không thể chỉ dừng ở việc cấp văn bằng hay đáp ứng những nhu cầu tuyển dụng trước mắt. Cần hình thành một hệ sinh thái kỹ năng, trong đó chuẩn năng lực được cập nhật thường xuyên, việc học gắn với môi trường làm việc và người lao động có cơ hội nâng cao kỹ năng suốt đời.

Singapore là một ví dụ rõ nét. Chương trình SkillsFuture không xem tấm bằng là điểm kết thúc của quá trình học tập, mà tạo điều kiện để người lao động liên tục nâng cao kỹ năng và chuyển đổi nghề nghiệp. 

Các khung kỹ năng mô tả vị trí việc làm, năng lực cần có và lộ trình phát triển trong hàng chục lĩnh vực. Nhiều chương trình kết hợp học tập có hướng dẫn, đào tạo tại nơi làm việc và thực hiện dự án thực tế.

Đức tổ chức đào tạo kép tại hai môi trường là trường nghề và doanh nghiệp. Phần Lan đánh giá kỹ năng thông qua những nhiệm vụ thực tế và các bài trình diễn năng lực tại nơi làm việc. Điểm chung không phải là xem nhẹ kiến thức, mà yêu cầu người học biết vận dụng kiến thức để thực hiện công việc.

OECD gọi đây là cách tiếp cận "skills-first": coi kỹ năng có thể chứng minh là chỉ báo quan trọng về năng lực, trong khi văn bằng giữ vai trò bổ trợ và bảo đảm chất lượng, thay vì trở thành rào cản duy nhất trong tuyển dụng và phát triển nhân lực.

Bài học đối với Việt Nam là không thể chỉ sửa chương trình hay nói hoài "học đi đôi với hành". Cần xây dựng chuẩn năng lực rõ ràng; tăng học tập qua công việc, dự án và tình huống thực; đánh giá bằng sản phẩm và kết quả thực hiện; đồng thời tuyển dụng, trả lương và thăng tiến dựa trên năng lực có thể kiểm chứng.

Chuyển từ tư duy nặng về bằng cấp sang nghề nghiệp không phải phủ nhận văn bằng, mà đòi hỏi văn bằng phải trở thành bằng chứng đáng tin cậy về năng lực được đào tạo. 

Giá trị của người lao động tiếp tục được khẳng định qua khả năng hành nghề, sản phẩm tạo ra và trách nhiệm đối với kết quả công việc. Đó cũng là ý nghĩa hiện đại của "nhất nghệ tinh, nhất thân vinh".

Từ bằng cấp đến năng lực thực chiến - Ảnh 2.Trung Quốc đã làm gì để tránh 'dư thừa bằng cấp, thiếu hụt kỹ năng'

TTCT - Một sự chuyển dịch âm thầm đang diễn ra trên thị trường việc làm Trung Quốc, báo hiệu một sự thay đổi trong cách giới trẻ nước này nhìn nhận thành công và thăng tiến nghề nghiệp.

Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất