
Vương tử Cát Nhĩ Đan của Mông Cổ trong tiểu thuyết Kim Dung - Ảnh: BAIDU
Đời thật đối lập truyện Kim Dung
Một trong số những nhân vật không may mắn đó là Cát Nhĩ Đan, người huynh đệ kết nghĩa "bất đắc dĩ" của Vi Tiểu Bảo trong bộ tiểu thuyết Lộc Đỉnh Ký của Kim Dung.
Trong tiểu thuyết, Cát Nhĩ Đan xuất hiện như một vương tử Mông Cổ có võ công khá, nhưng từng bị cao thủ Thiếu Lâm dùng một đòn "phất tay áo" đã đánh bật trở lại ghế.
Không chỉ vậy, Cát Nhĩ Đan còn bị xây dựng thành một nhân vật có phần xốc nổi, thô lỗ, háo sắc và tâm tính khá tiểu nhân, không có lập trường vững vàng.
Nhưng cách xây dựng này lại mang tính xuyên tạc nặng nề với một trong những nhà quân sự lỗi lạc của lịch sử vùng Trung Á.

Khả năng chiến đấu của người Mông Cổ luôn được đánh giá cao - Ảnh: BAIDU
Ngoài đời, nhân vật này chính là Galdan Boshugtu Khan, người đưa Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ trở thành một thế lực hàng đầu Trung Á cuối thế kỷ 17 và từng khiến hoàng đế Khang Hy phải trực tiếp đem quân đối phó.
Cát Nhĩ Đan sinh năm 1644, là con của Ba Đồ Nhĩ Hồn Đài Cát, người đặt nền móng cho chính quyền Chuẩn Cát Nhĩ của người Oirat (Ngõa Lạc) - một nhánh của Mông Cổ.
Cuộc đời ông ban đầu lại không đi theo con đường quân sự. Từ nhỏ, Cát Nhĩ Đan được xác nhận là hóa thân của Ôn Tát hoạt Phật; năm 1656, khoảng 13 tuổi, ông vào Tây Tạng học Phật, từng theo học Ban Thiền rồi tiếp tục được Đạt Lai Lạt Ma thứ năm dìu dắt.
Nghiên cứu của Hắc Long, thuộc Trung tâm nghiên cứu Mông Cổ học, Đại học Nội Mông, cho biết Cát Nhĩ Đan sống ở Tây Tạng gần 10 năm và có trình độ Phật học đáng kể. Nhưng ông đồng thời cũng rất giỏi võ nghệ.
Tần biên kỷ lược, tư liệu đời Thanh của Lương Phân, từng mô tả Cát Nhĩ Đan thường cầm đoản thương luyện tập nhiều giờ đồng hồ mỗi ngày.
Với xuất thân quý tộc Oirat, khả năng cưỡi ngựa, sử dụng thương và chiến đấu trong môi trường kỵ binh cũng là nền tảng rất phù hợp với cuộc đời quân sự sau này.
Cầm thương tự mình phá trận
Biến cố năm 1670 khiến Cát Nhĩ Đan từ một nhân vật tôn giáo trở thành chiến binh và người tranh đoạt quyền lực.
Anh ruột ông là Tăng Cách, thủ lĩnh Chuẩn Cát Nhĩ, bị hai người anh em cùng cha khác mẹ là Xa Thần và Trác Đặc Ba Ba Đồ Nhĩ sát hại. Bộ chúng của Tăng Cách nhanh chóng tan rã. Trong hoàn cảnh ấy, Cát Nhĩ Đan tập hợp được hơn 1.000 kỵ binh, trong khi Xa Thần đem khoảng 10.000 kỵ binh tới nghênh chiến.
Chính cuộc chiến này để lại những ghi chép dữ dội nhất về khả năng chiến đấu cá nhân của Cát Nhĩ Đan.
Theo Tần biên kỷ lược được Hắc Long dẫn lại, Cát Nhĩ Đan tự mình đi đầu, thúc ngựa, dựng thương và xông sâu nhất vào đội hình đối phương. Tư liệu thậm chí kể ông đánh giết hơn trăm kỵ binh, khiến quân Xa Thần tan vỡ, trong khi bản thân không trúng một mũi tên.
Khi đối phương lui về cửa núi Altai, Cát Nhĩ Đan tiếp tục truy kích. Nguồn này kể ông chỉ dẫn 20 kỵ sĩ xông lên trước, lọt thẳng vào trận địa, tự tay bắt một thủ lĩnh đối phương; quân chung quanh kinh hãi, bỏ cung xuống ngựa xin hàng.

Chuẩn Cát Nhĩ ở đời thật có tài thao lược - Ảnh: BAIDU
Những con số như một người giết hơn trăm kỵ sĩ dĩ nhiên mang màu sắc truyền kỳ, và chính Hắc Long cũng lưu ý điều đó. Nhưng đằng sau lớp huyền thoại là một đặc điểm được nghiên cứu này nhấn mạnh: Cát Nhĩ Đan gan dạ, thường thân chinh tuyến đầu, xung phong trước quân sĩ, đồng thời có khả năng chỉ huy và sử dụng chiến thuật rất tốt.
Khoảng năm 1672, ông chính thức trở thành thủ lĩnh Chuẩn Cát Nhĩ. Đến năm 1678, Cát Nhĩ Đan hoàn tất quá trình thống nhất các bộ Oirat và được Đạt Lai Lạt Ma thứ năm ban danh hiệu Boshugtu Khan. Từ một nhà sư hoàn tục, ông bước lên vị trí người đứng đầu một chính quyền quân sự đang nhanh chóng mở rộng.
Tài năng đáng chú ý của Cát Nhĩ Đan nằm ở chỗ ông không đóng khung quân đội trong phương thức kỵ chiến Mông Cổ truyền thống.
Tần biên kỷ lược ghi ông cho người Hồi Trung Á huấn luyện quân sĩ sử dụng hỏa khí. Trình tự chiến đấu được mô tả khá rõ: hỏa khí khai trận, tiếp đến cung tên, cuối cùng mới áp sát bằng thương và đao. Quân sĩ có thể mang súng, đoản thương, cung tên và đao; đại bác được vận chuyển bằng lạc đà.

Cát Nhĩ Đan ngoài đời là một lãnh tụ hùng mạnh của người Mông Cổ - Ảnh: AI
Đó là một quân đội kết hợp tính cơ động của kỵ binh Oirat với hỏa lực ngày càng quan trọng của chiến tranh thế kỷ 17.
Năm 1688, Cát Nhĩ Đan đem khoảng 30.000 quân đánh Khalkha. Các bộ Khalkha thất bại, phải chạy xuống phía nam tìm sự bảo hộ của nhà Thanh. Cát Nhĩ Đan từ một thủ lĩnh Trung Á đã trở thành mối đe dọa trực tiếp với vùng biên phía bắc Thanh triều.
Năm 1690, Khang Hy thân chinh đối phó. Tại Ulan Butung, quân Chuẩn Cát Nhĩ bị đánh bại nhưng Cát Nhĩ Đan vẫn rút thoát. Những năm sau, Khang Hy tiếp tục tổ chức các chiến dịch lớn; đến năm 1696 lực lượng Cát Nhĩ Đan chịu thất bại nặng, và năm 1697 ông qua đời khi thế lực đã suy kiệt.
Dù thất bại, Cát Nhĩ Đan vẫn được lịch sử ghi nhận như một nhân vật tài năng, từng khiến Khang Hy hoàng đế phải đau đầu, hoàn toàn đối lập với hình ảnh kém cỏi trong Lộc Đỉnh Ký.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận