
Máy bay B-29 thả bom xuống Triều Tiên tháng 8-1951 - Ảnh: USAF
Quân Bắc Triều Tiên của nhà lãnh đạo Kim Nhật Thành chiến đấu với quân Nam Triều Tiên dưới thời Tổng thống Lý Thừa Vãn.
Đội quân phía bắc được sự hỗ trợ của Liên Xô và tham chiến trực tiếp của Trung Quốc. Còn Nam Triều Tiên được Mỹ và nhiều quốc gia trong lực lượng Liên hiệp quốc cùng tham chiến.
Máy bay Mỹ lại xung trận
Ngày 25-6-1950, chiến sự bùng nổ khốc liệt. Chỉ một thời gian ngắn, đội quân phía nam liên tiếp bại trận và rút lui hàng loạt.
Họ phải co cụm khu vực cảng Busan với sau lưng là biển. Tuy nhiên ý chí thống nhất bán đảo Triều Tiên của nhà lãnh đạo Kim Nhật Thành phải đối mặt chiến sự khốc liệt mới khi Tổng thống Mỹ Harry S. Truman quyết định cùng nhiều quốc gia hỗ trợ Nam Triều Tiên.
Tướng MacArthur, vị chỉ huy quân đội Mỹ dày dặn kinh nghiệm trận mạc chiến đấu với phát xít Nhật trên mặt trận Thái Bình Dương, làm tổng tư lệnh lực lượng Liên hợp quốc tại Triều Tiên.
Mặc dù trận chiến trên bán đảo chỉ diễn ra bốn năm nhưng thiệt hại vô cùng khủng khiếp. Các nguồn số liệu khác nhau đều cho thấy có khoảng 2,5-3 triệu người ở cả hai phía đã thiệt mạng.
Trong khi dưới đất với thế trận phản công qua lại với những cuộc chiến như "bãi xay thịt", thì trên không cũng vô cùng ác liệt với lợi thế ban đầu thuộc không quân Mỹ nhưng tình hình thay đổi khi Liên Xô cho các tiêm kích phản lực Mig-15 hiện đại nhất của mình tham chiến.
Theo Britannica, thời điểm đầu khi quân Nam Triều Tiên bị đẩy lui nhanh chóng, tướng MacArthur chỉ sử dụng không lực ở Nhật Bản yểm trợ công dân Mỹ di tản.
Tuy nhiên khi Mỹ cùng lực lượng Liên hiệp quốc và Nam Triều Tiên phản công thì các cuộc ném bom chiến thuật và chiến lược bắt đầu được thực hiện ồ ạt, đặc biệt là những cuộc ném bom chiến thuật tầm gần vào trận địa và đường tiếp vận của đối phương.
Ba sư đoàn Mỹ đầu tiên của tướng MacArthur từ Nhật Bản đổ bộ hỗ trợ Nam Triều Tiên chịu nhiều thiệt hại.
Mãi đầu tháng 8-1950, tập đoàn quân số 8 do trung tướng chỉ huy Walton H. Walker, một trong những tư lệnh quân đoàn thiện chiến ở châu Âu năm 1944-1945, tham chiến thì tình hình mới thay đổi.
Lực lượng không quân số 5 của Mỹ với những chiếc P-51, B-26, B-29 Mustang từ Thế chiến 2 và những phản lực cơ mới như F80, F84 trên các tàu sân bay và căn cứ ở Nhật đã phát huy sức mạnh.
Cuộc ném bom đầu tiên bằng "pháo đài bay" B-29 của của lực lượng không quân Viễn Đông Mỹ vào hậu phương Bắc Triều Tiên được thực hiện ngày 29-6-1950. Ban đầu Mỹ cho rằng chỉ ném bom mục tiêu quân sự nhưng các báo cáo chiến trường cho thấy đã tàn phá dân sự và làm thiệt hại nhiều người dân.
Sự tàn phá khủng khiếp
Tiến sĩ Sahr Conway-Lanz, Đại học Yale, khẳng định: "Chiến tranh Triều Tiên đã đi theo mô hình do Thế chiến 2 thiết lập, với sự tàn phá dân thường trên diện rộng do các cuộc ném bom gây ra". Ban đầu các cuộc oanh tạc chọn lựa mục tiêu quân sự nhưng về sau nguyên tắc này không còn được bảo đảm.
Trong bài viết "Đạo đức ném bom dân thường sau Thế chiến 2", tiến sĩ Sahr Conway - Lanz viết: "Chiến dịch ném bom cháy mà tướng O'Donnell đề xuất hồi tháng 7 nhưng Washington cấm vì quá khiêu khích, bắt đầu vào đầu tháng 11.
Không giống như cuộc rút lui mùa hè năm 1950, Washington đã không kiềm chế MacArthur, có lẽ vì cuộc chiến tranh rộng lớn hơn mà người ta lo ngại trước đó đã nổ ra với Trung Quốc thay vì Liên Xô.
Ngày 8-11-1950, lực lượng không quân Viễn Đông (FEAF) đã ném 500 tấn bom cháy xuống hơn một dặm vuông khu vực dân cư của Sinuiju, phá hủy 60% thành phố.
Trong báo cáo của O'Donnell về hoạt động của máy bay ném bom, ông tuyên bố rằng "thị trấn đã biến mất".
Các thị trấn khác cũng chịu chung số phận. Đến ngày 28-11, Bộ Tư lệnh không quân ném bom báo cáo rằng 95% khu vực dân cư thị trấn Manpojin đã bị phá hủy, Hoeryong 90%, Namsi 90%, Chosan 85%, Sakchu 75%, Huichon 75%, Koindong 90% và Uiju 20%. Sự tàn phá tiếp tục kéo dài đến mùa đông khi lực lượng Trung Quốc buộc binh lính Liên hiệp quốc phải rút lui về phía nam.
Khi các đơn vị Liên hiệp quốc rút khỏi các thành phố lớn của Triều Tiên, những thành phố đó cũng trở thành mục tiêu. Vào ngày 30-12, chỉ huy FEAF thông báo cho cấp dưới rằng họ có quyền "phá hủy" Bình Nhưỡng, Wonsan, Hamhung và Hungnam, bốn trong số những thành phố lớn nhất của Triều Tiên...
Đến cuối cuộc chiến, 18 trong số 22 thành phố lớn ở Triều Tiên đã bị phá hủy ít nhất một nửa theo đánh giá thiệt hại của không quân Hoa Kỳ.
Việc ném bom cháy vào các khu dân cư của Triều Tiên bắt đầu từ tháng 11 đã khiến những tuyên bố trước đó của FEAF rằng các hoạt động ném bom của họ tránh phá hủy các khu dân cư trở nên vô nghĩa...".
Thiếu tướng William F. Dean, tù binh cấp cao nhất của quân đội Mỹ ở Triều Tiên, kể lại những gì ông chứng kiến: chiến dịch ném bom phá hủy gần như mọi tòa nhà kiên cố ở Bắc Triều Tiên, với phần lớn các thành phố và làng mạc đều là đống đổ nát hoặc vùng đất hoang phủ đầy tuyết.
Tổng cộng khoảng 635.000 tấn bom, ngoài 32.557 tấn napalm, đã được không quân Mỹ ném xuống Triều Tiên, trong khi chỉ khoảng 503.000 tấn bom được ném xuống toàn bộ chiến trường Thái Bình Dương trong Thế chiến 2. Điều này cho thấy mức độ oanh tạc trong cuộc chiến bán đảo Triều Tiên vô cùng khốc liệt.

Wonsan, Bắc Triều Tiên bị Mỹ ném bom năm 1951 - Ảnh: USAF
MiG-15 tham chiến
Thực tế chiến trường cho thấy chỉ đến khi không quân Liên Xô tham chiến với những chiếc tiêm kích phản lực MiG-15 hiện đại thời điểm đó thì Mỹ mới buộc phải giảm cường độ ném bom ban ngày.
Mặc dù cuối năm 1950, không quân Mỹ đã cho tiêm kích phản lực F-86 Sabre đối đầu MiG-15 nhưng họ không còn hoàn toàn giữ được lợi thế trên bầu trời như trước.
Các phi công Liên Xô cải trang quân phục và giao tiếp bằng tiếng Triều Tiên hoặc Trung Quốc đã không chiến với phi công Mỹ.
Hai loại tiêm kích đều có ưu thế riêng như cùng bay tốc độ khoảng 1.060km/h nhưng máy bay Liên Xô lên cao nhanh hơn, trong khi chiếc F86 lại thao tác chúi xuống tốt hơn.
Hỏa lực MiG-15 là hai khẩu súng máy 23 li và một khẩu pháo 37 li có sức phá hủy cao, thì sáu khẩu súng máy 12,7 li trên chiếc F-86 lại bắn nhanh hơn...
Có nhiều báo cáo khác nhau về thiệt hại của các trận không chiến. Mỹ cho rằng bắn hạ nhiều chiếc MiG-15 hơn máy bay của mình bị thiệt hại, còn phía Liên Xô thì báo cáo ngược lại.
Tuy nhiên thực tế đã có những trận không chiến rất ác liệt diễn ra trên bầu trời và MiG alley (hành lang MiG) đã thật sự gây khó khăn cho không quân Mỹ.
Trong đó trận ngày 23-10-1951 được xem là "ngày thứ ba đen tối" khi 200 máy bay Mỹ gồm F-86, F-84, F-80, Gloster Meteor IV hộ tống hơn 20 chiếc máy bay ném bom B-29 oanh tạc tuyến hậu cần tiếp vận cho quân Bắc Triều Tiên.
Các phi đội MiG-15 của sư đoàn 303, 324 Liên Xô đã đánh chặn. Họ chia hai tốp không chiến với F-86 và bắn các B-29 bay chậm hơn. Theo nguồn thông tin từ Liên Xô, họ đã bắn cháy 10 chiếc máy bay ném bom chiến lược.
Còn theo phía Mỹ thì F-86 của họ đã bắn hạ nhiều chiếc MiG-15. Tuy nhiên dù kết quả chính xác thế nào thì đây cũng là một trong những trận không chiến lớn mà phi công Mỹ đã gặp phải đối thủ đáng gờm...
Sau chiến tranh Triều Tiên, không quân Mỹ và đồng minh còn thực hiện nhiều cuộc oanh tạc khốc liệt trong các cuộc chiến Đông Dương, Nam Tư, Iraq, Afghanistan và hiện nay là Iran.
Máy bay dần hiện đại hơn với công nghệ tàng hình, bom cũng chính xác hơn và mục tiêu oanh tạc còn phải hứng chịu cả tên lửa bắn từ máy bay lẫn dưới mặt đất.
Lịch sử chiến tranh chưa bao giờ bớt khốc liệt dù nhân loại khát khao hòa bình và nguyện cầu chấm dứt đau thương vì bom rơi đạn nổ.
Trong cuộc chiến Triều Tiên, Mỹ đã có kế hoạch sử dụng bom nguyên tử và được một số tướng lĩnh như MacArthur ủng hộ. Tuy nhiên Tổng thống Truman cuối cùng quyết định dừng đòn thảm khốc này vì e ngại thiệt mạng quá nhiều người dân, Liên Xô trả đũa và nguy cơ Thế chiến 3.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận