
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới dự Diễn đàn Giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp Việt Nam - New Zealand 2026, tại Đại học Công nghệ Auckland ngày 13-8 - Ảnh: TTXVN
Sau khi hoàn thành chương trình thạc sĩ tại Đại học Công nghệ Auckland (AUT), New Zealand, Trần Quốc Công (sinh năm 1990) trở về Việt Nam.
Gần hai năm làm việc với các mô hình ngôn ngữ lớn, AI Agents, RAG (một kỹ thuật trong AI)... trong môi trường doanh nghiệp đã cho Công thấy những câu hỏi mà giảng đường đôi khi chưa kịp đặt ra. Chính những bài toán thực tế ấy thôi thúc Công muốn quay trở lại New Zealand làm nghiên cứu sinh tiến sĩ.
Trong cuộc trò chuyện với Tuổi Trẻ, GS.TS Nguyễn Hoàng Minh, giáo sư chuyên ngành khoa học máy tính tại AUT và từng hướng dẫn Công cùng nhiều học viên Việt Nam khác, mô tả đó không phải là hành trình một chiều từ Việt Nam sang New Zealand.
"Tôi rất thích những hành trình như vậy. Biết đâu, sau khi hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh, họ lại trở về Việt Nam một lần nữa để tiếp tục cống hiến cho quê hương" - GS.TS Nguyễn Hoàng Minh, hiện là Phó chủ tịch Mạng lưới Tri thức Việt Nam tại New Zealand (VKNZ), chia sẻ.
Từ quả táo ngoài vườn và bài toán chuyển giao công nghệ



Từ trái qua, từ trên xuống: GS.TS Nguyễn Hoàng Minh cùng học viên Trần Quốc Công; Công nghệ của Hectre trên quả táo; Một chuyến công tác của GS.TS Nguyễn Hoàng Minh - Ảnh: Nhân vật cung cấp; Hectre
Tại New Zealand, ông Minh đã hướng dẫn sinh viên hợp tác với Công ty Hectre xây dựng hệ thống di động dùng "thị giác máy tính" (computer vision) và "máy học" (machine learning) để đánh giá kích thước và chất lượng trái cây.
Thay vì đưa cả thùng táo qua dây chuyền phân loại cố định và đắt tiền, người làm vườn chỉ cần dùng thiết bị di động chụp ảnh từ phía trên. Hệ thống tự hiệu chỉnh góc ảnh, phát hiện từng quả và chuyển thông tin thành kích thước thực.
Trong các thử nghiệm trên nhiều giống và nhiều vườn ở New Zealand, độ chính xác đạt khoảng 95% so với phép đo thủ công bằng thước kẹp. Sau đó nhóm tiến tới bài toán khó hơn: ước lượng kích thước quả khi nó còn trên cây. Khó khăn lớn nhất, theo ông Minh, không phải là tìm ra thuật toán đủ thông minh.
"Một quả táo trong phòng thí nghiệm thì rất dễ làm việc: ánh sáng cố định, nền sạch, góc camera chuẩn. Nhưng quả táo ngoài vườn thì khác hẳn: hôm nay trời nắng, ngày mai trời âm u; lá có thể che mất một nửa quả; các quả chồng lên nhau; góc chụp và khoảng cách thay đổi; rồi mỗi giống táo lại có màu sắc, hình dạng và kích thước khác nhau", ông giải thích.
Từ đó ông rút ra bài học quan trọng hơn mọi con số: một mô hình đạt 99% trong phòng thí nghiệm nhưng không ai dùng được ngoài thực tế đôi khi kém giá trị hơn một mô hình 95% nhưng người nông dân có thể lấy điện thoại ra và sử dụng ngay.
Điểm đáng học ở Công ty Hectre không chỉ nằm ở công nghệ. Họ giải được bài toán chuyển giao bằng cách xây dựng mạng lưới kết nối với người trồng, nhà đóng gói và đối tác tại nhiều quốc gia, rồi điều chỉnh sản phẩm theo từng thị trường.
Một công nghệ được phát triển ở New Zealand nhưng muốn hoạt động tốt ở Mỹ, Úc, Canada, Ý, Chile hay Mexico thì không thể chỉ dịch giao diện sang ngôn ngữ khác. Cần hiểu quy trình sản xuất, cách người dùng làm việc, yêu cầu của thị trường và đôi khi cả những chi tiết rất nhỏ trong thói quen vận hành.
Vì vậy, nếu muốn đưa công nghệ New Zealand về Việt Nam, GS.TS Nguyễn Hoàng Minh cho rằng có thể tham khảo mô hình trên.
"Tôi không nghĩ Việt Nam thiếu khả năng tiếp nhận công nghệ AI hay robotics. Điều chúng ta cần thêm là những mô hình kết nối đủ bền vững giữa công nghệ, doanh nghiệp và người sử dụng.
Nếu có một doanh nghiệp người Việt ở New Zealand đứng ra kết nối hai hệ sinh thái, tìm đúng công nghệ ở đây, đúng đối tác ở Việt Nam và cùng phát triển dữ liệu cũng như đội ngũ tại chỗ, tôi nghĩ khả năng thành công sẽ cao hơn rất nhiều", ông chia sẻ.
Người đứng giữa không chỉ là một đại lý bán sản phẩm, mà phải hiểu cả hai phía: hiểu cách công nghệ được phát triển, thương mại hóa và bảo vệ sở hữu trí tuệ tại New Zealand; đồng thời hiểu văn hóa kinh doanh, khả năng đầu tư, nhu cầu và điều kiện sử dụng tại Việt Nam.
Khi đó, những vấn đề như dữ liệu địa phương, đào tạo nhân lực hay hỗ trợ kỹ thuật cũng có thể được giải quyết ngay tại Việt Nam thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào đội ngũ ở New Zealand.
Tập trung thu hút nguồn vốn con người
GS.TS Đỗ Xuân Hùng (Đại học Massey, New Zealand), một Phó chủ tịch khác của VKNZ, cũng hình dung con người là cầu nối cho hợp tác tri thức giữa Việt Nam và New Zealand.
Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tới New Zealand từ ngày 12 đến 13-8 đã chứng kiến những văn kiện cụ thể: bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, thỏa thuận hợp tác giáo dục, các khoản hỗ trợ cho sáng kiến nông nghiệp thông minh thích ứng khí hậu và sáng kiến CGIAR cho các vùng châu thổ đồng bằng lớn châu Á (sáng kiến CGIAR), cùng định hướng thúc đẩy kinh tế xanh, phát thải thấp và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Từ danh sách văn kiện, có thể thấy hai bên đang tập trung vào tính bổ trợ và những thế mạnh có tính nền tảng của hai nước, nhất là giáo dục - đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nông nghiệp công nghệ cao và phát triển bền vững. Vấn đề lúc này là làm sao để những văn kiện ấy không dừng lại ở văn bản.
Hiện hai nước chưa có thỏa thuận tài chính xanh song phương nào và New Zealand cũng chưa thành công về vận hành thị trường carbon nông nghiệp, do đó theo ông Hùng, thay vì tập trung vào thu hút vốn tài chính, Việt Nam nên thu hút vốn con người, vốn chất xám từ New Zealand.

GS.TS Đỗ Xuân Hùng (phải) chia sẻ về chương trình thạc sĩ tài chính liên kết giữa Đại học Massey (New Zealand) và Học viện Tài chính cùng các câu chuyện về cuộc sống ở New Zealand cho các sinh viên Việt Nam - Ảnh: Nhân vật cung cấp
GS.TS Đỗ Xuân Hùng lập luận lợi thế của cộng đồng người Việt tại New Zealand không nằm ở số lượng, vốn chỉ hơn 15.000 người, mà ở mật độ chuyên môn trong nông nghiệp, khoa học đất, thú y và khoa học khí hậu - những lĩnh vực New Zealand có thế mạnh toàn cầu.
Để việc trao đổi và chia sẻ tri thức, đồng kiến tạo, đồng sản xuất giữa hai nước thuận lợi, ông Đỗ Xuân Hùng đề xuất gắn học bổng với một chương trình cựu sinh viên có ngân sách nhỏ, để người đã tốt nghiệp có thể xin tài trợ triển khai dự án chung với đối tác New Zealand cũ.
Bên cạnh đó, xây dựng cơ chế công nhận tư cách chuyên gia và bổ nhiệm kiêm nhiệm hai chiều giữa các viện nghiên cứu Việt Nam và đại học New Zealand. Đặc biệt nên nghiên cứu việc công nhận lẫn nhau văn bằng và chuẩn nghề, nhất là trong thú y, khoa học đất và kiểm định phát thải.
Một vấn đề khác là thuận lợi hóa hơn nữa di chuyển ngắn hạn cho chuyên gia và kỹ thuật viên nông nghiệp, bởi lẽ CPTPP mà Việt Nam và New Zealand đều là thành viên sáng lập đã có chương về di chuyển thể nhân.

GS.TS Đỗ Xuân Hùng dẫn các học giả quốc tế đi thăm Văn Miếu - Quốc Tử Giám sau hội thảo quốc tế về tài chính ngân hàng được đồng tổ chức bởi Học viện Ngân Hàng, Tổ chức các nhà khoa học và chuyên gia Việt Nam toàn cầu và Đại học Massey - Ảnh: Nhân vật cung cấp
Muốn bền vững, phải hai chiều
GS.TS Nguyễn Hoàng Minh cũng cho rằng cần một "đường ống" (pipeline) thực chất trong hợp tác tri thức giữa Việt Nam và New Zealand. Thứ thực sự cần được chuyển giao không phải một thuật toán hay một gói vốn, mà là năng lực con người và khả năng duy trì sự liên tục.
Tất nhiên, để hợp tác bền vững, nhất là trong chia sẻ tri thức, đó không nên là dòng chảy một chiều.
Về mặt chính sách, ông Minh đề xuất có các quỹ đồng tài trợ cho nghiên cứu chung. Ông giải thích nếu một lab New Zealand phải tự tìm toàn bộ kinh phí để làm việc với Việt Nam, hoặc ngược lại, hợp tác rất dễ dừng lại ở thiện chí.
Tuy nhiên nếu có một cơ chế mà hai chính phủ cùng bỏ vốn, doanh nghiệp cùng tham gia và trường đại học cùng đào tạo nhân lực, thì khả năng dự án đi đến sản phẩm thực tế sẽ cao hơn nhiều.
Từ góc độ là người nhiều năm ở New Zealand, ông Minh chia sẻ quốc gia này cũng có những nhu cầu rất thực tế về nguồn nhân lực, đặc biệt trong một số hoạt động nông nghiệp và mùa vụ.
Do đó, có thể nghiên cứu những chương trình lao động, thực tập hoặc đào tạo có cấu trúc tốt hơn để người Việt Nam sang New Zealand làm việc trong những lĩnh vực phù hợp, vừa hỗ trợ nhu cầu nhân lực tại đây, vừa tiếp cận công nghệ, quy trình quản lý và tiêu chuẩn sản xuất của New Zealand.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với AI, đặc biệt AI trong nông nghiệp. New Zealand có môi trường nghiên cứu tốt nhưng dân số tương đối nhỏ; Việt Nam có quy mô dân số và hệ sinh thái sản xuất lớn hơn rất nhiều.
Nếu một nghiên cứu sinh New Zealand về AI trong nông nghiệp có cơ hội làm việc tại Việt Nam, người đó có thể tiếp cận nhiều loại cây trồng, điều kiện khí hậu, quy trình sản xuất và tập dữ liệu lớn hơn rất nhiều.
Ngược lại, sinh viên Việt Nam có thể tiếp cận các công nghệ, phòng lab và phương pháp nghiên cứu tiên tiến tại New Zealand. Hai bên bổ sung cho nhau rất tự nhiên.
Tri thức của tất cả và quan niệm "nhận 1 trao 3"
VKNZ ra đời ngày 23-7-2026, trong bối cảnh Việt Nam vừa ban hành Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển và Nghị quyết 23 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài.
Tôn chỉ của VKNZ là vì tất cả người Việt, của tất cả người Việt và cho tất cả người Việt, cùng đoàn kết, hội nhập và phát triển thịnh vượng bền vững.
GS.TS Đỗ Xuân Hùng chia sẻ tri thức ở đây không chỉ giới hạn trong học thuật hay nghiên cứu mà bao gồm cả chuyên môn nghề nghiệp, kỹ năng sống, kinh nghiệm thực tiễn. Một người thợ lành nghề, một kỹ thuật viên, một điều dưỡng, một chủ doanh nghiệp nhỏ, một sinh viên, hay một nhà giáo tất cả đều mang tri thức có giá trị.
GS.TS Nguyễn Hoàng Minh thì nhắc lại một ý tưởng giản dị mà ông chia sẻ trong buổi sinh hoạt gần đây của mạng lưới: "nhận 1, trao 3".
Nếu mỗi người nhận được một kiến thức, một cơ hội hay một sự giúp đỡ, hãy thử trao lại cho 3 người khác. 1 thành 3, 3 thành 9, rồi 9 thành 27.
"Nếu sau này thành công của VKNZ không được đo bằng chúng tôi có bao nhiêu thành viên hay tổ chức bao nhiêu hội thảo, mà bằng bao nhiêu người đã được nâng lên và rồi chính họ lại nâng những người khác lên, tôi nghĩ mạng lưới đã làm được điều có ý nghĩa nhất", ông Minh bày tỏ.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận