
GS Hoàng Văn Cường - Ảnh: GIA HÂN
Trao đổi với Tuổi Trẻ, GS Hoàng Văn Cường, Phó chủ tịch Hội Khoa học kinh tế Việt Nam, nhấn mạnh Nghị quyết 19 của Trung ương Đảng về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã thể hiện một bước phát triển, thay đổi mới trong tư duy về mô hình phát triển đất nước.
Theo đó, mô hình phát triển đất nước mà Nghị quyết đề cập gồm 7 lĩnh vực gồm phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường, quốc phòng - an ninh, đối ngoại và quản trị quốc gia.
Bao trùm trên tất cả là mô hình quản trị quốc gia bao gồm tổ chức bộ máy nhà nước, phân công quyền lực, thể chế luật pháp để vận hành bộ máy và xã hội.
Kinh nghiệm của nhiều nước vượt qua bẫy thu nhập trung bình cho thấy mô hình quản trị quốc gia gần như là yếu tố quyết định để mở đường cho phát triển.
Cách tiếp cận ở Nghị quyết 19 hoàn toàn phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới khi mục tiêu của Việt Nam đã được nâng nội hàm phát triển đất nước lên một tầm cao hơn.
Đặc biệt với Việt Nam, mục tiêu cuối cùng không chỉ là tăng trưởng kinh tế mà phải xây dựng một đất nước giàu mạnh, hùng cường, có vị thế trên trường quốc tế, xã hội bình đẳng, người dân ấm no, hạnh phúc.
Để thể chế trở thành nguồn lực phát triển
* Nghị quyết 19 nhấn mạnh chuyển từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo, dẫn dắt; thay "không quản được thì cấm" bằng hậu kiểm, thử nghiệm chính sác, trách nhiệm người đứng đầu. Theo ông, cần thay đổi thế nào để thể chế thực sự đi trước một bước, trở thành lợi thế cạnh tranh trong giai đoạn phát triển mới?
- Nghị quyết 19 tiếp tục thể hiện tinh thần rất cơ bản trong tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, đổi mới tư duy về thể chế và luật pháp, nhằm chuyển từ nhà nước quản lý sang nhà nước kiến tạo phát triển, từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị dựa trên dữ liệu, mở đường và dẫn dắt phát triển.
Nhìn lại trước đây, nếu theo tư duy quản lý, doanh nghiệp phải đến xin và Nhà nước cấp phép, dẫn đến cơ chế "xin cho" hay "không quản được thì cấm".
Còn tư duy mới hiện nay đã thay dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, chuyển từ cơ chế xin - cho sang kiến tạo, phục vụ.
Do vậy Nhà nước cần xây dựng khuôn khổ pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn và yêu cầu trách nhiệm để doanh nghiệp có thể căn cứ vào đó tự đánh giá để quyết định hoạt động kinh doanh của mình, đảm bảo quyền tự do kinh doanh.
Khi doanh nghiệp hoạt động sẽ thực hiện các nghĩa vụ khai báo, công khai thông tin, nhà nước thực hiện hậu kiểm, giám sát, hỗ trợ và thúc đẩy, phát triển.
Chuyển từ Nhà nước quản lý sang Nhà nước kiến tạo phát triển, các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động của cơ quan quản lý cũng phải thay đổi từ đánh giá quản lý theo quy trình sang đánh giá theo kết quả đầu ra.
Theo đó cơ quan nhà nước không phải chỉ quản lý đúng, làm đúng quy định là được, mà phải xem kết quả hoạt động của cơ quan nhà nước phục vụ doanh nghiệp tốt đến đâu, kiến tạo được môi trường phát triển như thế nào và lấy mức độ đáp ứng yêu cầu của người dân và doanh nghiệp làm thước đo kết quả.
Nhà nước kiến tạo không phủ nhận, loại bỏ thị trường, không thay thế thị trường trong phân bổ nguồn lực mà sử dụng các công cụ thị trường để điều tiết các hoạt động kinh tế.
Nhà nước muốn khuyến khích lĩnh vực nào sẽ dùng lợi ích kinh tế thông qua công cụ thị trường để thúc đẩy và muốn hạn chế lĩnh vực nào cũng dùng công cụ thị trường để điều tiết.
Nhà nước vẫn tôn trọng quy luật thị trường, phát huy sức mạnh cạnh tranh bình đẳng, khuyến khích doanh nghiệp phát triển đúng hướng, cũng như khơi thông và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực.
GS Hoàng Văn Cường
Đổi mới thể chế quản trị theo mô hình nhà nước kiến tạo là giải pháp bao trùm, cốt yếu nhất để khơi thông nguồn lực và phát huy tối đa tiềm năng, mở đường cho sáng tạo phát triển. Khi đó, thể chế không đơn thuần là hệ thống quy định - nó trở thành nguồn lực cho phát triển.
Đổi mới thể chế đồng bộ theo đúng tinh thần chỉ đạo, chủ trương đã nêu trong Nghị quyết 19 là thể chế đi trước, mở đường cho đổi mới, sáng tạo và tạo hành lang cho các xu thế phát triển mới là vấn đề mấu chốt bao trùm quyết định thành công của đổi mới mô hình phát triển đất nước.
* Nghị quyết 19 tiếp tục nhấn mạnh trong đổi mới mô hình phát triển lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo quốc gia là động lực chính. Cần những giải pháp gì để thực hiện thành công được nội dung này?
- Trong bối cảnh hiện nay, cả 7 lĩnh vực trong mô hình phát triển đều phải đổi mới dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trên cơ sở chuyển đổi số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.
Chuyển đổi số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo chỉ thực sự phát huy sức mạnh, mang hiệu quả đột phá vượt trội khi có hệ sinh thái số quốc gia đồng bộ từ hạ tầng thông tin hiện đại, hệ thống dữ liệu kết nối liên thông trên cơ sở chuyển đổi số toàn diện tất cả các hoạt động kinh tế, xã hội, quản lý.
Đồng thời có thể chế luật pháp đồng bộ điều chỉnh, xác lập cho tất cả các quan hệ được thực hiện trên nền tảng số, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo thay thế cho cho các phương thức truyền thống.
Để đưa khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển phải có thể chế đủ mạnh để mở đường cho tư duy mới, cách làm mới, sáng tạo mới đi liền với chấp nhận những yếu tố rủi ro.
Để mở đường cho tư duy mới, khuyến khích năng động sáng tạo trước hết phải có thể chế bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, năng động sáng tạo ngay từ khi bắt tay vào công việc để cán bộ yên tâm hành động chứ không thể chờ xác định không vụ lợi, không tham nhũng để được miễn truy cứu trách nhiệm.
Cơ chế xử lý rủi ro để thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ cũng cần được xác lập sao cho có thể biến việc chấp nhận rủi ro thành động lực tham gia hành động của tất cả các bên có liên quan: Nhà nước thực hiện được sứ mệnh mở đường, người nghiên cứu có đất để thỏa sức sáng tạo, doanh nghiệp lấy rủi ro làm động lực để thu được lợi nhuận cao.
Nhà nước phải xác định được chiến lược phát triển khoa học, công nghệ quốc gia nhắm đúng vào khoảng trống của thế giới nhưng Việt Nam lại có thế mạnh để đặt chân, tiến tới làm chủ.
Các hoạt động nghiên cứu phải được đầu tư và tập trung đúng vào từng khâu mà chiến lược quốc gia đã xác định, doanh nghiệp phải kết nối giữa hoạt động nghiên cứu được Nhà nước đầu tư với hoạt động R&D của doanh nghiệp đến đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn phát triển.

Các tiêu chuẩn xanh không chỉ là yêu cầu phát triển bền vững mà trở thành tiêu chuẩn của cạnh tranh. Trong ảnh là một góc TP.HCM - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Tăng năng suất, chuyển đổi xanh
* Nghị quyết xác định mô hình kinh tế theo hướng hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Cần làm gì để thực hiện thành công được chủ trương này?
- Trong 7 thành tố trong mô hình phát triển quốc gia thì kinh tế giữ vai trò tạo nền tảng vật chất, là nguồn lực cho việc thực hiện và đổi mới các thành tố phát triển còn lại.
Các thành tố khác được phát triển vững mạnh theo hướng đổi mới mô hình phát triển lại thúc đẩy ngược lại cho kinh tế phát triển.
Vì vậy việc Nghị quyết xác định đổi mới mô hình kinh tế theo hướng hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đổi mới mô hình phát triển quốc gia.
Nền kinh tế hiệu quả cao chỉ có được khi việc phân bổ và sử dụng nguồn lực phải dựa trên các tín hiệu thị trường và Nhà nước sử dụng các công cụ thị trường để điều tiết theo mục tiêu định hướng.
Mô hình kinh tế sáng tạo phải dựa vào khoa học, công nghệ, kinh tế số, kinh tế dữ liệu và trí tuệ nhân tạo để tạo ra đột phá về năng suất và phát triển.
Các tiêu chuẩn xanh không chỉ là yêu cầu phát triển bền vững mà trở thành tiêu chuẩn của cạnh tranh và chìa khóa để đặt chân vào thị trường phát triển.
Tự chủ và hội nhập là hai mặt cấu thành tạo nên sức mạnh của nền kinh tế Việt Nam. Nền kinh tế Việt Nam có độ mở rất cao và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
Trong tương lai nền kinh tế vẫn phải tiếp tục hội nhập sâu rộng và mở cửa để phát huy những lợi thế trong nước, khai thác những tiềm năng thị trường quốc tế và đón nhận, bổ sung sức mạnh từ bên ngoài.
Đồng thời trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, việc tăng cường năng lực của nền kinh tế tự chủ, đủ khả năng chống chịu với những cú sốc, biến động từ bên ngoài cũng như các rủi ro là yêu cầu tất yếu, ngày càng trở lên cấp bách.
Tăng trưởng bao trùm là mục tiêu thiên niên kỷ và cũng là mục tiêu phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa hướng tới bảo đảm mọi người dân đều được hưởng thành quả phát triển, không để ai bỏ lại phía sau, không chỉ về kinh tế mà cả về cơ hội phát triển, vị thế xã hội.
Chuyển đổi xanh cần được xem là cơ hội tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, chứ không chỉ là chi phí môi trường. Phát triển năng lượng tái tạo, giao thông xanh, công nghiệp sạch, nông nghiệp carbon thấp, kinh tế tuần hoàn và đô thị xanh có thể tạo ra không gian tăng trưởng mới, việc làm mới và năng lực cạnh tranh mới.
Cùng với đó dựa trên cơ cấu ngành và không gian phát triển kinh tế theo hướng công nghệ cao, giá trị gia tăng cao và phát thải thấp; phát triển dịch vụ hiện đại như tài chính, logistics, giáo dục, y tế, công nghệ thông tin, thiết kế, tư vấn và dịch vụ sáng tạo; hiện đại hóa nông nghiệp theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp thông minh và nông nghiệp giá trị cao.
Đồng thời cần phát triển các vùng động lực, đô thị sáng tạo, trung tâm tài chính, trung tâm công nghệ cao và hành lang kinh tế liên vùng để tạo cực tăng trưởng mới…
* Theo ông, động lực tăng trưởng thực sự của Việt Nam trong giai đoạn tới sẽ nằm ở đâu để có thể tăng tốc, thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số bền vững?
- Các động lực trong mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam những năm qua đang dựa nhiều vào gia tăng vốn đầu tư, thâm dụng lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên (gồm cả dựa vào đất đai) đang dần tới giới hạn và nếu tiếp tục duy trì mô hình này có nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình.
Trong bối cảnh cách mạng 4.0, chuyển đổi số, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi xanh đang trở thành động lực mới cho phát triển nhảy vọt, Việt Nam cần chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất.
Muốn nâng năng suất phải sử dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật và nguồn nhân lực trình độ cao. Trong kỷ nguyên số và trí tuệ nhân tạo (AI), Việt Nam có lợi thế về nguồn nhân lực trẻ, khả năng thích nghi nhanh và trí tuệ. Đây là cơ hội để chuyển sang mô hình phát triển dựa vào số và AI.
Do vậy cần thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới quy trình sản xuất, tự động hóa, số hóa quản trị và phát triển sản phẩm mới, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư dài hạn cho công nghệ thay vì chỉ mở rộng sản xuất theo chiều rộng.
Cần có chiến lược phát triển các ngành công nghệ chiến lược có khả năng tạo ra năng lực cạnh tranh dài hạn, lựa chọn một số lĩnh vực ưu tiên có tính nền tảng và khả năng lan tỏa cao, trên cơ sở đánh giá nghiêm túc về năng lực, thế mạnh, khả năng tham gia chuỗi giá trị.
Việc xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia không chỉ là của Nhà nước mà phải là mạng lưới liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, quỹ đầu tư, chuyên gia công nghệ và thị trường.
Trong đó Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế và đầu tư nền tảng; doanh nghiệp là trung tâm của đổi mới; trường đại học và viện nghiên cứu là nguồn cung tri thức; thị trường vốn cung cấp tài chính cho rủi ro công nghệ và xã hội tạo ra văn hóa chấp nhận sáng tạo, thử nghiệm và thất bại có kiểm soát.
Khi thực hiện được các nội dung này chính là con đường căn bản để Việt Nam tránh nguy cơ tụt hậu, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận