
Sự chênh lệch giữa cơ chế “gia nhập” và “rút lui” đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật để doanh nghiệp có thể kết thúc vòng đời một cách nhanh chóng, minh bạch và đúng quy định - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Doanh nghiệp ra đời khi nhìn thấy cơ hội và tiềm năng của thị trường, nhưng cũng sẽ có lúc phải rút lui khi hoạt động kinh doanh không còn hiệu quả, không đủ sức cạnh tranh hoặc chủ doanh nghiệp không còn nhu cầu duy trì hoạt động.
Đây là quy luật bình thường của kinh tế thị trường. Vì vậy, bên cạnh tạo thuận lợi cho doanh nghiệp gia nhập, pháp luật cũng cần bảo đảm cơ chế rút lui nhanh chóng, minh bạch và đúng pháp luật.
Tuy nhiên, giữa "gia nhập" và "rút lui" khỏi thị trường đang tồn tại sự bất cân đối đáng kể. Luật Doanh nghiệp 2020 dành một chương với 26 điều về thành lập doanh nghiệp, cùng Nghị định 168/2025 hướng dẫn, trong khi giải thể doanh nghiệp chủ yếu được quy định tại 5 điều, từ Điều 207 - 211.
Thực tế, pháp luật đã khá thông thoáng ở khâu gia nhập thị trường nhưng chưa có một cơ chế tương xứng để doanh nghiệp kết thúc vòng đời pháp lý.
Giải thể doanh nghiệp: điểm nghẽn lớn nhất vẫn nằm ở thủ tục về thuế
Theo số liệu, trong 8 tháng đầu năm 2026 có 40.820 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 125,5% so với cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, số doanh nghiệp thành lập mới là 138.097, tăng 7,7%.
Con số doanh nghiệp giải thể tăng mạnh có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ.
Một mặt, đây là dấu hiệu cho thấy áp lực cạnh tranh và quá trình thanh lọc trên thị trường đang diễn ra mạnh mẽ. Mặt khác, một nguyên nhân quan trọng là cơ quan thuế đang tích cực xử lý các hồ sơ giải thể, chấm dứt tình trạng tồn đọng kéo dài trong thời gian trước.
Vấn đề đặt ra là: tại sao hồ sơ giải thể doanh nghiệp lại có thể bị tồn đọng trong thời gian dài?
Một trong những nguyên nhân chủ yếu nằm ở thủ tục thuế. Theo quy định tại Điều 208 Luật Doanh nghiệp, sau khi doanh nghiệp thông qua quyết định giải thể, trong thời hạn 7 ngày làm việc phải gửi quyết định giải thể đến các cơ quan chức năng và các bên liên quan.
Sau khi hoàn thành việc thanh toán các khoản nợ và chi phí giải thể, nếu hết thời hạn 180 ngày kể từ ngày cơ quan đăng ký kinh doanh nhận được quyết định giải thể mà không có ý kiến phản đối bằng văn bản của doanh nghiệp hoặc bên có liên quan, thì cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Đó là quy trình trên lý thuyết. Nhưng trên thực tế, doanh nghiệp muốn hoàn tất việc giải thể còn phải trải qua một bước quan trọng và khó khăn: hoàn tất thủ tục về thuế.
Thông tư 90/2026 của Bộ Tài chính quy định trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày doanh nghiệp nộp hồ sơ giải thể, cơ quan thuế phải kiểm tra tình trạng thuế. Nếu doanh nghiệp không còn nợ thuế thì cơ quan thuế ban hành thông báo chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Sau đó doanh nghiệp mới tiếp tục hoàn tất thủ tục tại cơ quan đăng ký kinh doanh để chính thức chấm dứt tư cách pháp lý.
Như vậy, trên thực tế, thủ tục tại cơ quan thuế đang trở thành một "nút thắt" quan trọng trong quá trình giải thể doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp có thể không còn hoạt động, không còn doanh thu, không còn nhu cầu kinh doanh, nhưng nếu thủ tục thuế chưa hoàn tất thì doanh nghiệp vẫn không thể chính thức kết thúc vòng đời pháp lý của mình. Doanh nghiệp rơi vào tình trạng "tiến thoái lưỡng nan": hoạt động thì không còn hiệu quả, nhưng muốn giải thể cũng không xong.
Đáng nói hơn, không phải mọi hồ sơ giải thể đều phức tạp. Có những doanh nghiệp hoạt động trong thời gian ngắn, chưa phát sinh doanh thu, không có nợ thuế và cũng không có vi phạm về thuế. Đối với những trường hợp như vậy, nếu vẫn áp dụng một quy trình kiểm tra kéo dài như đối với những doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh phức tạp thì chi phí tuân thủ sẽ trở thành gánh nặng không cần thiết.
Trách nhiệm của cơ quan quản lý đến đâu?
Người dân làm thủ tục về thuế - Ảnh: THANH HƯƠNG
Ngày 8-5-2026, Cục Thuế ban hành Quyết định số 595/QĐ-CT về chiến dịch làm sạch dữ liệu về thuế. Chiến dịch tập trung rà soát, chuẩn hóa dữ liệu người nộp thuế, đặc biệt là các trường hợp ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế hoặc không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký. Một trong những mục tiêu được đặt ra là xử lý kịp thời các hồ sơ giải thể, chấm dứt hoạt động, không để kéo dài.
Đây là một chủ trương cần thiết. Một cơ sở dữ liệu thuế chính xác không chỉ giúp cơ quan nhà nước quản lý tốt hơn, mà còn góp phần phòng ngừa việc lợi dụng pháp nhân doanh nghiệp để gian lận thuế, mua bán hóa đơn hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật.
Tuy nhiên, làm sạch dữ liệu không thể chỉ là một chiến dịch xử lý hồ sơ tồn đọng. Nếu nguyên nhân tạo ra hồ sơ tồn đọng không được giải quyết thì sau khi chiến dịch kết thúc, những tồn đọng mới hoàn toàn có thể tiếp tục phát sinh.
Vì vậy, bên cạnh trách nhiệm của người nộp thuế, cần đặt ra một cách rõ ràng trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong việc tiếp nhận, hướng dẫn và giải quyết hồ sơ.
Luật Doanh nghiệp quy định khá rõ trách nhiệm của cơ quan đăng ký kinh doanh khi giải quyết hồ sơ thành lập doanh nghiệp: trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan đăng ký kinh doanh phải cấp hoặc từ chối cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và phải nêu rõ lý do nếu từ chối.
Trong khi đó, đối với thủ tục giải thể, cơ chế trách nhiệm và chế tài đối với việc cơ quan thuế chậm giải quyết hồ sơ chưa tương xứng. Đây là một khoảng trống cần được khắc phục.
Không thể yêu cầu doanh nghiệp phải tuân thủ thời hạn, nghĩa vụ và chế tài một cách nghiêm ngặt nhưng lại thiếu một cơ chế trách nhiệm tương ứng đối với cơ quan công quyền khi giải quyết hồ sơ của doanh nghiệp.
Đặc biệt, trong quá trình giải quyết hồ sơ, nếu cơ quan thuế yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thêm tài liệu thì những yêu cầu này cần phải có căn cứ pháp lý rõ ràng, được thể hiện minh bạch và nằm trong phạm vi cần thiết để xác định nghĩa vụ thuế.
Không nên để doanh nghiệp rơi vào tình trạng phải cung cấp những tài liệu ngoài phạm vi pháp luật quy định hoặc phải đi lại nhiều lần chỉ để hoàn thành một thủ tục hành chính.
Cần hoàn thiện một khung pháp lý riêng về giải thể doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua sẽ đặt ra nhu cầu tiếp tục hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành. Đây cũng là thời điểm phù hợp để xây dựng một khung pháp lý đầy đủ và thống nhất về giải thể doanh nghiệp.
Nếu Nhà nước đã xây dựng cơ chế để doanh nghiệp gia nhập thị trường nhanh chóng, đơn giản và thuận lợi thì cũng cần có một cơ chế tương tự để doanh nghiệp rút lui.
Một doanh nghiệp không còn nhu cầu tồn tại cần được giải thể nhanh chóng, minh bạch và êm thấm, thay vì phải tồn tại nhiều năm trên hệ thống trong trạng thái "không hoạt động nhưng chưa giải thể".
Các quy định liên quan đến giải thể hiện đang nằm rải rác ở nhiều văn bản, đặc biệt là các quy định về thuế. Vì vậy, cần nghiên cứu tập hợp và thống nhất các quy định này trong một văn bản hướng dẫn có tính liên ngành, qua đó tránh tình trạng mỗi cơ quan hiểu và áp dụng một cách khác nhau.
4 kiến nghị
Thứ nhất, phải quy định rõ thời hạn và trách nhiệm của cơ quan thuế khi giải quyết hồ sơ giải thể doanh nghiệp. Hết thời hạn mà cơ quan thuế không có phản hồi hoặc không xác định được nghĩa vụ thuế còn tồn tại thì cần có cơ chế pháp lý để doanh nghiệp không phải chờ đợi vô thời hạn như hiện nay.
Thứ hai, cần phân loại doanh nghiệp theo mức độ rủi ro về thuế. Đối với doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp chưa phát sinh doanh thu hoặc có hoạt động kinh doanh đơn giản, thủ tục giải thể cần được thiết kế đơn giản, nhanh chóng hơn. Đối với doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro cao, cơ quan thuế có thể thực hiện kiểm tra sâu hơn.
Thứ ba, cần nghiên cứu chính sách xử lý đối với các khoản nợ thuế và tiền phạt khó thu, nhất là những trường hợp doanh nghiệp thực tế đã chấm dứt hoạt động nhưng vẫn tồn tại kéo dài trên hệ thống. Điều này vừa giúp doanh nghiệp kết thúc vòng đời pháp lý, vừa giảm áp lực quản lý đối với cơ quan thuế.
Thư tư, xây dựng chế tài xử phạt vi phạm hành chính về thuế căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp, cần có mức xử phạt hợp lý đối với doanh nghiệp siêu nhỏ và hộ kinh doanh.
Một môi trường kinh doanh lành mạnh không chỉ được đánh giá bằng số lượng doanh nghiệp mới thành lập, mà còn phải được đánh giá bằng khả năng giúp doanh nghiệp hoàn tất đầy đủ vòng đời của mình: "sinh - lão - bệnh - tử".
Khi doanh nghiệp có thể gia nhập thị trường dễ dàng, hoạt động trong một môi trường minh bạch, và khi không còn khả năng hoặc nhu cầu kinh doanh thì có thể rút lui nhanh chóng, đó mới thực sự là một môi trường kinh doanh thuận lợi.
Cần phân loại để tránh "cá mè một lứa"
Một trong những vấn đề cần được cải cách là phương thức kiểm tra, quản lý thuế đối với doanh nghiệp giải thể.
Hiện nay các chế tài xử phạt vi phạm hành chính được xây dựng áp dụng chung cho tất cả doanh nghiệp, không phân biệt quy mô, những doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và vừa với mức độ tuân thủ kém cũng như chi phí tuân thủ hạn chế cần được áp dụng mức xử phạt thấp hơn so với những doanh nghiệp có quy mô lớn, khi đó tình trạng "mở doanh nghiệp vài triệu, mà 'khai tử' lại tốn cả trăm triệu" mới không còn xảy ra.
Trong quá trình xử lý hồ sơ cơ quan thuế cũng không thể áp dụng cùng một quy trình đối với một doanh nghiệp chưa từng phát sinh doanh thu, không có hóa đơn, không có lao động và không có nợ thuế với một doanh nghiệp đã hoạt động nhiều năm, có doanh thu lớn, nhiều giao dịch và có dấu hiệu rủi ro về thuế.
Việc đánh đồng tất cả doanh nghiệp vào cùng một quy trình kiểm tra sẽ khiến những hồ sơ đơn giản cũng phải trải qua các bước xử lý tương tự hồ sơ phức tạp, làm gia tăng thời gian và chi phí tuân thủ.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận