
Một góc trong trung tâm ĐH tập trung tại Quảng Châu (Trung Quốc) - Ảnh: Macao Magazine
Dưới đây là một số mô hình phổ biến.
Mô hình "đô thị đại học"
Thay vì để các trường phân tán trong nội đô, chính quyền quy hoạch một khu đất lớn, xây dựng hạ tầng đồng bộ rồi đưa nhiều trường về cùng một nơi. Tiêu biểu là trung tâm đại học tập trung tại Quảng Châu (Trung Quốc).
Theo Nhân Dân nhật báo, trung tâm này rộng khoảng 18km², quy tụ 10 trường đại học (ĐH) với hàng trăm nghìn sinh viên, được thiết kế như một cực phát triển mới của TP, kết nối với khu công nghệ cao và hệ thống giao thông đô thị.
Chính quyền địa phương chọn cách làm "tổng lực", hạ tầng đi trước, trường đi sau. Sinh viên học tập, sinh sống, giải trí trong cùng một không gian, tạo nên một hệ sinh thái tương đối khép kín.
Một hình thức khác là khu ĐH quốc tế Incheon (Hàn Quốc). Theo British Council, nhà nước đầu tư toàn bộ hạ tầng tại khu ĐH quốc tế Incheon, sau đó mời các ĐH quốc tế vào vận hành.
Khu này nằm trong trung tâm kinh tế mới Songdo và gắn chặt với hệ sinh thái doanh nghiệp. Họ xác định nếu chỉ di dời cơ học các trường sẽ rất dễ tạo ra một không gian học tập tách biệt, không phải một trung tâm tri thức đúng nghĩa.
Mô hình "siêu cụm khoa học"
Cách tiếp cận "siêu cụm khoa học" không đặt trọng tâm vào giãn không gian đào tạo mà hướng đến tập trung nguồn lực nghiên cứu ở quy mô lớn. ĐH, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ được đặt cạnh nhau để tạo ra quy mô đủ lớn, từ đó thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Ví dụ tiêu biểu là Paris-Saclay ở ngoại ô Paris (Pháp). Đây là trung tâm khoa học kỹ thuật danh tiếng, tập hợp nhiều trường ĐH và viện nghiên cứu danh tiếng, xếp hạng cao trên thế giới. Khu vực này chiếm khoảng 15% năng lực nghiên cứu của cả nước và 40% việc làm nghiên cứu của vùng Paris, quy tụ hàng loạt trường ĐH, viện nghiên cứu và trung tâm R&D của các tập đoàn lớn.
Viện nghiên cứu Brookings đánh giá các cụm đổi mới như vậy giúp rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng vì nhà khoa học, doanh nghiệp và khởi nghiệp cùng hoạt động trong một không gian. Qua đó các trường tạo ra lợi thế lớn trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn hay năng lượng vốn rất coi trọng tốc độ chuyển giao công nghệ.
Một ví dụ khác là TP khoa học Tsukuba (Nhật) được xây dựng từ những năm 1970, cách Tokyo 45 phút đi tàu. Tsukuba tập trung hàng trăm viện nghiên cứu quốc gia và trường ĐH, trở thành một trong những trung tâm khoa học lớn nhất nước này. Khu vực này thu hút hàng chục ngàn nhà khoa học, nổi tiếng với sự kết hợp giữa tri thức đỉnh cao và không gian sống xanh.
Tuy nhiên, mô hình này cũng cho thấy những thách thức rất đặc thù. Theo tạp chí Nature, dự án Paris-Saclay từng vấp phải nhiều tranh luận về quản trị khi các trường lo ngại mất quyền tự chủ trong một cấu trúc tập trung. Các trường sợ rằng "đặt cạnh nhau" không đồng nghĩa với "làm việc cùng nhau".
Còn Tsukuba cũng từng bị phê bình là thiếu sức sống đô thị trong giai đoạn đầu vì dù phát triển mạnh về nghiên cứu nhưng chưa gắn chặt với đời sống kinh tế - xã hội.

Một góc thành phố khoa học Tsukuba (Nhật) - Ảnh: Wikimedia
Mô hình "đa cơ sở"
Đây là cách tiếp cận mềm hơn và cũng là xu hướng phổ biến tại nhiều ĐH châu Âu, mở rộng theo mạng lưới nhiều cơ sở thay vì di dời hoàn toàn.
Trường hợp điển hình là ĐH London (UCL) với dự án UCL East. Đó là đợt mở rộng lớn nhất trong lịch sử gần 200 năm, đặt tại khu Olympic Park ở Đông London đang được tái phát triển. UCL giữ cơ sở Bloomsbury ở trung tâm, đồng thời phát triển cơ sở mới cho nghiên cứu liên ngành và hợp tác với cộng đồng.
Điểm đáng chú ý là UCL East không phải "bản sao" của cơ sở cũ mà được thiết kế như một không gian mở, nơi sinh viên, nhà nghiên cứu và cư dân địa phương cùng tham gia các dự án sáng tạo. Nghĩa là cơ sở mới cũng đóng vai trò trong chiến lược phát triển đô thị.
Điểm mạnh lớn nhất của mô hình này là khả năng giữ kết nối với trung tâm đô thị, đồng thời mở rộng không gian phát triển. Cơ sở nội đô tiếp tục đóng vai trò kết nối với hệ thống bệnh viện, doanh nghiệp, thiết chế văn hóa trong khi cơ sở mới tạo điều kiện cho các ngành cần không gian lớn như công nghệ, kỹ thuật hay khoa học liên ngành.
Tuy nhiên thách thức cũng không nhỏ. Trước hết là chi phí vận hành tăng khi một trường phải duy trì nhiều cơ sở. Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), các campus hiện đại cần tối ưu hóa không gian và tăng cường chia sẻ hạ tầng, nếu không sẽ dẫn đến phân tán nguồn lực.
Thứ hai là vấn đề kết nối. Nếu giao thông giữa các cơ sở không thuận tiện, trải nghiệm học tập và hợp tác nghiên cứu có thể bị gián đoạn. Đây là lý do các dự án như UCL East phải gắn chặt với hệ thống giao thông công cộng ngay từ đầu.
Cuối cùng là tác động xã hội. Các nghiên cứu tại Đông London cho thấy việc mở rộng cơ sở có thể thúc đẩy tái sinh đô thị nhưng lợi ích không phải lúc nào cũng phân bổ đồng đều, đặc biệt là với các vấn đề về nhà ở và chênh lệch thu nhập.

Trung tâm Stanford tại khu ĐH quốc tế Incheon (Hàn Quốc) - Ảnh: Stanford University
Mô hình "đại học nội đô"
Ở chiều ngược lại, nhiều ĐH tại Mỹ và châu Âu lại chọn bám sâu vào trung tâm đô thị. Viện nghiên cứu Brookings đánh giá các ĐH nằm trong khu trung tâm thường có kết quả thương mại hóa tốt hơn, tạo ra nhiều bằng sáng chế và doanh nghiệp spin-off hơn so với các trường ở ngoại vi.
Ví dụ ĐH Pennsylvania (Mỹ) tạo ra tác động kinh tế khoảng 37,7 tỉ USD mỗi năm cho khu vực. Trong khi đó, cơ sở khu vực đô thị Phoenix của ĐH bang Arizona (Mỹ) được thiết kế như một công cụ tái sinh đô thị, mang lại việc làm và đầu tư cho khu trung tâm.
Dĩ nhiên, hạn chế của mô hình này là quỹ đất hạn chế, chi phí cao và áp lực đô thị. Nhưng bù lại nó tối ưu hóa một yếu tố quan trọng là cơ hội khi ĐH nằm ngay trong dòng chảy của nền kinh tế tri thức.
Các đại học lớn trên thế giới giữ lại cơ sở lịch sử nội đô
UBND TP Hà Nội vừa có tờ trình gửi HĐND TP về việc thông qua Quy hoạch tổng thể thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm.
Theo đồ án Quy hoạch tổng thể thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, cơ quan soạn thảo đã đề xuất di dời các Trường ĐH Dược Hà Nội, khoa hóa học Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội) để chuyển không gian "ĐH Tổng hợp Hà Nội" tại 19 Lê Thánh Tông thành khu Bảo tàng ĐH thời đại Hồ Chí Minh.
Trước đề xuất trên, Trường ĐH Dược Hà Nội cho biết đã gửi ý kiến góp ý. Theo quan điểm của nhà trường, việc chuyển đổi thành bảo tàng nếu không được cân nhắc thận trọng có thể làm suy giảm giá trị thực của di sản, đánh mất một hệ sinh thái học thuật quý giá và làm nghèo đi đời sống văn hóa đô thị.
Bởi khuôn viên trường là công trình kiến trúc tiêu biểu đầu thế kỷ 20, gắn với sự hình thành của Trường ĐH Y Dược Đông Dương và Viện ĐH Đông Dương - trung tâm giáo dục ĐH đầu tiên tại Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.
Trường ĐH Dược Hà Nội đề xuất được giữ nguyên cơ sở tại 13-15 Lê Thánh Tông để đào tạo chuyên sâu, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, nghi lễ học thuật và mở rộng cơ sở mới để mở rộng quy mô đào tạo, phát triển phòng thí nghiệm hiện đại.
Về việc mở bảo tàng, trường đề xuất có thể mở một phần không gian cho tham quan, triển lãm, giới thiệu lịch sử giáo dục, kiến trúc do chính nhà trường vận hành, gắn với hoạt động thực tế.
Trong khi đó, các ĐH lớn trên thế giới đều lựa chọn giữ lại cơ sở lịch sử trong trung tâm đô thị, đồng thời mở rộng ra bên ngoài như ĐH Paris-Cité (Paris, Pháp), ĐH Oxford và ĐH Cambridge (Anh), ĐH Harvard (Mỹ). Điểm chung của các trường ĐH này không bảo tàng hóa cơ sở cũ và duy trì chức năng học thuật như cốt lõi của di sản.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận