
Bà Nguyễn Thị Định (thứ hai từ phải sang) và bà Nguyễn Thị Bình cùng đồng đội tại chiến khu miền Đông Nam Bộ năm 1973 - Ảnh: Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam
Trước đó vào ngày 22-8-1945, Patti với vai trò trưởng ban Đông Dương của OSS, đã từ Côn Minh bay sang Hà Nội trên chiếc C47 Skytrain số hiệu 5908. Chiếc không vận mới được sản xuất cuối năm 1942 nhưng đã kịp tham chiến bốn năm chống phát xít...
Những chứng nhân đặc biệt
Thiếu tá Patti kể trong cuốn Why Vietnam (Tại sao Việt Nam) chiếc C47 đã cất cánh hướng về không phận Việt Nam lúc 11h35 ngày 22-8-1945.
Ngoài đội Mỹ 12 người thuộc OSS còn có 4 người Pháp, tất cả đều được trang bị vũ khí sẵn sàng chiến đấu nếu gặp quân Nhật kháng cự.
Đến 13h30, chiếc không vận hạ độ cao và nhìn thấy sân bay Bạch Mai ngổn ngang chướng ngại vật ở đường băng dù trước đó phái bộ Nhật tại Trung Quốc chỉ định máy bay sẽ hạ cánh xuống sân bay Hà Nội này.
Tình hình buộc thiếu tá Patti phải chuyển phương án B, hạ cánh ở sân bay Gia Lâm gần sông Hồng và một trại tù binh chiến tranh.
Thực tế bất thường buộc họ phải tính đến khả năng giao chiến với quân Nhật. Biệt đội Mỹ sẽ chiến đấu và đột nhập trại tù binh để trao vũ khí cho họ trợ chiến trong lúc chờ lực lượng AGAS (ban không trợ mặt đất) từ Côn Minh tiếp viện.
Chiếc C47 đảo vài vòng quanh sân bay Gia Lâm, các sĩ quan tình báo Mỹ nhìn thấy rõ những chiếc xe tăng cỡ nhỏ có gắn súng cao xạ bố phòng bên dưới.
Sẵn sàng cho mọi tình huống, Patti yêu cầu trung úy Grelecky cùng 3 người trang bị vũ khí nhảy dù xuống thám thính trước. Tuy nhiên quân Nhật án binh bất động, không có phát súng nào phải nổ.
Đúng 14h10, chiếc C47 lăn bánh an toàn trên đường băng Gia Lâm. Dọc đường về khách sạn Métropole, đội Mỹ đi qua rừng cờ đỏ sao vàng cùng các biểu ngữ chào mừng Việt Nam độc lập, hoan hô đồng minh.
Mời bạn lan tỏa lòng yêu nước dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 tại đây.
Patti kể: "Chẳng thấy một bóng cờ Pháp, chỉ độc có cờ đỏ với ngôi sao vàng năm cánh". Căn phòng của viên thiếu tá Mỹ ở cũng trông ra dinh Thống sứ Pháp mà lúc này đã thuộc về Việt Minh với lá cờ đỏ sao vàng đang tung bay phấp phới.
Gần một tháng rưỡi ở Việt Nam, những người Mỹ có nhiệm vụ chính là giúp đỡ các tù binh đồng minh và chuẩn bị cho việc tiếp nhận đầu hàng của phát xít Nhật. Đặc biệt thời gian ở Hà Nội họ cũng trở thành chứng nhân quốc tế ngày Quốc khánh 2-9-1945 và được gặp gỡ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hoàng Minh Giám, Khuất Duy Tiến...
Cuốn Why Vienam ghi lại buổi chiều trước ngày Quốc khánh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời cơm thiếu tá Patti và Gerlecky ở Bắc Bộ phủ với sự tham dự của các ông Võ Nguyên Giáp, Hoàng Minh Giám. Nhiều vấn đề Việt Nam và quốc tế đã được trò chuyện.
Ông Hoàng Minh Giám hỏi: "Chẳng phải rõ ràng là người Việt Nam cũng rất thiết tha với điều mà người Mỹ đã đấu tranh cho công cuộc cách mạng của họ, "giải phóng khỏi áp bức của ngoại quốc và giành độc lập dân tộc đó sao".
Người Mỹ "từ năm 1776 đã mở đường cho thế giới bước vào kỷ nguyên giành độc lập dân tộc", hơn ai hết cần phải đánh giá được điều mà người Việt Nam đang ra sức làm cho mình"...
Mùa thu lịch sử năm 1945, ngoài chứng kiến khung cảnh TP vẫn sinh hoạt bình thường, cửa hàng vẫn mở, chợ vẫn đông người, các công sở vẫn làm việc tấp nập, các chứng nhân là sĩ quan Mỹ cũng nhiều lần quan sát lực lượng vũ trang Việt Minh. Dù họ còn thiếu quân trang và vũ khí nhưng có tính kỷ luật cao cùng tinh thần yêu nước, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ nền độc lập còn non trẻ của mình.
Ngày lễ độc lập đầu tiên ở thủ đô Hà Nội, thiếu tá Patti cùng Knapp, Bernique, Gerlecky có mặt ở quảng trường Ba Đình. Họ đã chứng kiến hình ảnh bộ đội danh dự và bảo vệ được huấn luyện, trang bị và có kỷ luật cao nhất. Họ cũng nhìn thấy các đội dân quân tự vệ trang bị cả súng kíp, dao rựa, gươm, mã tấu và gậy gỗ...
Một đội quân hỗn hợp không được quân trang đẹp mắt nhưng đã lặng im phăng phắc nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập: "Hỡi đồng bào cả nước, tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
Thiếu tá Patti kể mình không hiểu Chủ tịch Hồ Chí Minh nói gì, người phiên dịch phải cố gắng từng lời, "nhưng cứ nghe giọng nói của ông Hồ bình tĩnh, rõ ràng, ấm cúng, thân mật và nghe được quần chúng đồng thanh đáp lời thì chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa là ông đã thấu tới quần chúng".
Thực tế sau đó ở đất nước có lịch sử 2000 năm bất khuất chống ngoại xâm này đã cho thấy những dự cảm của người Mỹ là đúng. Đáp lời kêu gọi của Bác Hồ, dân tộc Việt Nam khát khao độc lập - tự do và sẵn sàng can trường chiến đấu vì lý tưởng đó...

Đoàn quân Nam tiến sẵn sàng chiến đấu và hy sinh để cứu nước - Ảnh: Tư liệu/ TTXVN
Sẵn sàng hy sinh
Mùa thu lịch sử năm 1945, cả nước đã rầm rập bước vào kháng chiến chống quân Pháp tái xâm lược. Thủ đô Hà Nội rực lửa 60 ngày đêm chiến đấu vệ thành. Miền Trung, miền Nam cũng lớp lớp chiến sĩ lên đường gìn giữ non sông như lời bài hát Giải phóng quân của Phan Huỳnh Điểu: "Ra đi ra đi bảo tồn sông núi/ Ra đi ra đi thà chết chớ lui".
Tinh thần "quyết tử cho Tổ quốc sinh" bừng bừng lan rộng khắp nơi. Hồi ký Gia đình, bạn bè và đất nước của nguyên phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã ghi lại một kỷ niệm hào hùng "Ngày 23-9, quân Pháp công khai gây hấn với Việt Minh. Súng nổ khắp nơi trong TP. Ba tôi đi liên lạc với anh em ở Chi đội B, chỉ còn tôi và mấy em nhỏ ở nhà thờ cụ Phan bên Đa Kao.
Nghe tiếng súng nổ xung quanh, tôi và hai em trai lớn bàn nhau lấy cây súng ngắn của ba tôi còn cất ở nhà, bảo nhau nếu quân địch xông vào nhà thờ thì chị em phải bắn, nhất định không để chúng bắt. May mà chúng chỉ đi qua, chúng tôi không phải dùng súng...".
Sau đoạn này, bà Bình ghi tiếp chị em mình đã sẵn sàng quyết tử dù họ chưa hề... học bắn súng. Sớm theo tiếng gọi cách mạng, bà được giao nhiệm vụ vận chuyển bí mật mấy khẩu súng từ nội thành ra ngoại thành trong những ngày tháng 9-1945 sục sôi ở Sài Gòn.
"Chúng tôi đều hăng hái thực hiện mọi nhiệm vụ, bất chấp hiểm nguy. Lúc này mọi người, đặc biệt là thanh niên, chỉ nghĩ đến hai từ Độc lập và Tự do của đất nước. Hai tiếng Độc lập và Tự do sao mà thiêng liêng"!
Cũng thời cuộc lịch sử của dân tộc này, thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn (sinh năm 1925, trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam tại trại Davis, nguyên thứ trưởng Bộ Ngoại giao) là chàng thanh niên trẻ đã từ Huế tình nguyện Nam tiến theo tiếng gọi non sông. Trong một trận chiến đấu ở mặt trận Khánh Hòa, đơn vị ông bị tấn công áp đảo và bị ném lựu đạn tiêu diệt.
Một trái lựu đạn ném trúng chân đồng đội và ông Tuấn đã nhanh chóng lượm lên ném trả ngược lại. Sức nổ làm ông hư một mắt nhưng ông đã cứu sống được đồng đội. Kể từ đó ông có thêm biệt danh là chiến sĩ "độc nhãn" và sau này lừng danh là vị tướng "độc nhãn" của quân cách mạng trong trại Davis giữa Sài Gòn.
Nhiều lần tâm sự về đời binh nghiệp của mình, ông chỉ trả lời ngắn gọn: "Bác Hồ kêu gọi chiến đấu để giành độc lập cho nước nhà thì mình làm trai phải xung phong chứ. Nợ nước phải đáp đền, đó là tiếng gọi thiêng liêng của thế hệ chúng tôi trong thời chiến tranh".
-------------------------
Theo tiếng gọi non sông, lớp lớp người yêu nước đã về chiến khu để trường kỳ kháng chiến cho đến thắng lợi cuối cùng.
Kỳ tới: Ra đi ra đi thà chết chớ lui
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận