
Một tàu hải quân Iran bắn tên lửa tại khu vực gần Oman trong một cuộc tập trận diễn ra trước khi chiến sự bùng phát - Ảnh: AP
Nhưng cuộc chiến đồng thời cũng là một món hời bất ngờ cho không ít những ngành công nghiệp khác.
Trước hết, phải nói tới các công ty dầu mỏ. Sự kiện eo biển Hormuz bị phong tỏa, cùng các cuộc tấn công của Iran vào cơ sở hạ tầng năng lượng nhiều nước vùng Vịnh, đã khiến giá dầu tăng vọt.
Chiến sự là mỏ vàng cho năng lượng và vũ khí
Hệ quả là lợi nhuận ròng của một số công ty năng lượng lớn nhất thế giới tăng vọt. ExxonMobil, công ty dầu mỏ lớn nhất nước Mỹ, báo cáo lợi nhuận 14,5 tỉ USD trong quý 2-2026, mức cao nhất của công ty trong bốn năm qua. Chevron, hãng dầu lớn thứ hai của Mỹ, cũng chỉ kém đôi chút với lợi nhuận 12 tỉ USD cho cùng kỳ, mức cao nhất trong sáu năm qua.
Và không chỉ có các hãng Mỹ, TotalEnergies (Pháp) kiếm lời 6 tỉ USD chỉ tính từ tháng 4 đến tháng 6-2026. Shell và BP (đều của Anh) tăng hơn gấp đôi lợi nhuận hằng quý so với cùng kỳ năm trước, lần lượt là 9,8 và 5,7 tỉ USD.
Bất chấp tình trạng hỗn loạn ở Trung Đông, một số nhà sản xuất hàng đầu của khu vực cũng đã bội thu sau khi tên lửa bay và máy bay xuất kích. Saudi Aramco (Saudi Arabia) thu về 33,4 tỉ USD lợi nhuận ròng trong quý 2-2026, tăng 1/3 so với năm 2025.

Chiến sự và lợi nhuận cho các hãng dầu lớn.
Thứ đến, chiến tranh tất nhiên sẽ mang lại lợi ích cho các hãng vũ khí. Truyền thông Mỹ đã nhiều lần nhắc tới khả năng nước này đang cạn kiệt các loại vũ khí thiết yếu ở Trung Đông, đặc biệt là tên lửa đánh chặn Patriot và hệ thống phòng thủ tầm cao giai đoạn cuối (THAAD).
Chính quyền Trump phủ nhận điều này. Trong hợp đồng vũ khí lớn gần đây nhất liên quan đến cuộc chiến, Lầu Năm Góc thông báo ngày 17-8 rằng họ đã chốt một thỏa thuận trị giá 22,9 tỉ USD với Tập đoàn RTX để tăng cường sản xuất tên lửa hành trình Tomahawk được sử dụng cho các cuộc tấn công.
Quân đội Mỹ cũng hợp tác với các nhà sản xuất vũ khí trong các hợp đồng trị giá hàng chục tỉ USD kể từ khi bắt đầu chiến tranh, bao gồm một thỏa thuận trị giá 59 tỉ USD với Lockheed Martin để tăng gấp ba sản lượng tên lửa Patriot, loại vũ khí mà các lực lượng Mỹ và vùng Vịnh đã phải sử dụng rất nhiều để đối phó với các cuộc tấn công bằng tên lửa và máy bay không người lái của Iran.
Đây là lĩnh vực mà Iran đã chứng minh họ có thể vượt trội trong chiến tranh bất đối xứng. Một hệ thống phòng thủ Patriot mới có giá hơn 1 tỉ USD, theo Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS). Mỗi tên lửa đánh chặn Patriot được phóng đi tiêu tốn khoảng 4 triệu USD, trong khi drone Shahed của Iran, đối tượng đánh chặn, được sản xuất hàng loạt với giá 20.000-50.000 USD mỗi chiếc.
"Nhu cầu đã tăng lên với hệ thống phòng không và tên lửa, tên lửa đánh chặn, công nghệ chống drone, các hệ thống giám sát và tình báo, vệ tinh, hệ thống đẩy, đầu đạn và bổ sung đạn dược", Rami Sarafa, Giám đốc điều hành kiêm người sáng lập Cordoba Advisory Partners, chia sẻ với Al Jazeera.
"Cuộc xung đột đã làm nổi bật tầm quan trọng của các thiết bị đánh chặn drone giá cả phải chăng, hệ thống phòng thủ tên lửa đa tầng, khả năng ISR (tình báo, giám sát và trinh sát) liên tục và khả năng sản xuất số lượng lớn đạn dược tiêu hao một cách nhanh chóng. Đây là bài học mà Mỹ và Israel đang phải trả giá đắt để học lấy".
Trong chiến sự, kẻ khốn đốn, người bất ngờ hưởng lợi
Nhưng tiền chi cho súng đạn tăng lên thường đồng nghĩa với ngân quỹ cho những điều có tính dựng xây hơn sẽ phải giảm xuống. Cả gián tiếp và trực tiếp, cuộc chiến đã đẩy chi phí nhiên liệu và phân bón cao hơn, khiến giá lương thực tăng lên trên toàn cầu.
"Vùng Vịnh có vai trò quan trọng không chỉ với dầu mỏ và khí đốt, mà còn với phân bón và các nguyên liệu đầu vào của nó", Gerben Hieminga, chuyên gia về thị trường năng lượng tại ING Research, nói với Hãng tin Al Jazeera. "Nếu nông dân phản ứng với giá cao bằng cách bón ít phân hơn, tác động kinh tế có thể xuất hiện nhiều tháng sau đó thông qua sản lượng thấp hơn và giá lương thực cao hơn, các nước nhập khẩu dễ tổn thương ở châu Phi và châu Á phải đối mặt với rủi ro lớn nhất".
Vào tháng 7, chỉ số giá lương thực của Tổ chức Lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) đã tăng 0,6% so với tháng trước, chạm mức cao nhất kể từ tháng 1-2023, với lý do theo FAO là tác động tổng hợp của hạn hán và giá nhiên liệu cao hơn vì xung đột ở Trung Đông và Ukraine.
Chương trình Lương thực thế giới ước tính có thêm 7,1 triệu người ở ba quốc gia dễ bị tổn thương - Somalia, Afghanistan và Sri Lanka - hiện đang phải chật vật để có đủ lương thực do hậu quả của cuộc chiến.
Trong khi giá lương thực tăng lên là dễ hiểu, thì có một chuyện lại khá bất ngờ: Nhiều ngân hàng đầu tư lớn cũng ăn nên làm ra nhờ chiến tranh.
Biến động dữ dội trên các thị trường chứng khoán do hàng loạt biến cố chiến tranh thất thường dẫn đến gia tăng đột biến hoạt động giao dịch tài chính, khi nhà đầu tư tìm kiếm lợi nhuận hoặc hoán đổi cổ phiếu sang tài sản ít rủi ro hơn, chẳng hạn như trái phiếu.
Cả bốn đại gia ngân hàng Mỹ thuộc nhóm "Big Four" đều báo cáo mức tăng lợi nhuận trên 10% trong quý 2-2026.
Cụ thể, JPMorgan, Bank of America, Citigroup và Wells Fargo đã thu về tổng cộng 42,5 tỉ USD lợi nhuận ròng. Lợi nhuận ròng của HSBC (Anh) tăng vọt 60% lên 10,1 tỉ USD trong quý gần đây nhất, trong khi Societe Generale của Pháp có lợi nhuận tăng thêm 23%, lên 2,04 tỉ USD.
Các hãng hàng không lại không được may mắn như vậy. Chiến tranh đã tác động nghiêm trọng đến hoạt động làm ăn của họ, khi các cuộc tấn công bằng tên lửa và drone của Iran đã khiến hàng chục nghìn chuyến bay phải hủy hoặc chuyển hướng, nhất là trong những tháng đầu của cuộc xung đột.
Hiệp hội Vận tải hàng không quốc tế ước tính các hãng hàng không trong khu vực tính chung đang trên đà chịu khoản lỗ 4,3 tỉ USD trong năm nay, sau khi đã có lợi nhuận 7,2 tỉ USD vào năm 2025.
Tác động của cuộc xung đột với ngành hàng không còn là ở giá nhiên liệu cao hơn. Air New Zealand chẳng hạn, ghi nhận khoản lỗ 200 triệu USD vào tháng 6, trở thành hãng hàng không mới nhất mà lợi nhuận sụt giảm vì chi phí nhiên liệu cao hơn.
"Thiệt hại đặc biệt lớn với các hãng hàng không vùng Vịnh và châu Âu hoặc châu Á phụ thuộc nhiều vào hành lang Đông - Tây, trong khi các hãng hàng không Mỹ nói chung ít bị ảnh hưởng trực tiếp hơn", Gerben Hieminga tại ING Research cho biết.
Theo dữ liệu của UNCTAD, một tuần trước khi cuộc chiến Iran nổ ra, dòng chảy dầu thô trung bình qua eo biển Hormuz chiếm khoảng 38% tổng sản lượng toàn cầu, khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG) chiếm 29% và khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) chiếm 19%. Xuất khẩu dầu thô từ khu vực vùng Vịnh đã giảm gần một nửa (47%) so với trước chiến tranh, từ khoảng 17 triệu thùng/ngày trong năm 2025 xuống còn khoảng 9 triệu thùng/ngày tính đến tháng 8-2026.
Các quốc gia phụ thuộc nhiều nhất vào dầu mỏ Trung Đông bao gồm Eritrea và Madagascar, mỗi nước nhập khẩu khoảng 90% lượng dầu từ khu vực này, tiếp theo là Pakistan với 78%, Nhật Bản (77%) và Kenya (77%).
Việc đóng cửa eo biển Hormuz đã vẽ lại dòng chảy vận tải biển toàn cầu, đẩy lưu lượng tàu ra xa vùng Vịnh và hướng về phía Biển Đỏ cùng Đông Nam Á, trong đó Singapore và Malaysia nổi lên như những trung tâm trung chuyển năng lượng được điều hướng lại.
Các lô hàng dầu nhiên liệu của Nga đến Singapore và Malaysia đã tăng gấp 2,5 lần so với tháng trước trong tháng 7, biến khu vực này trở thành một trung tâm ngày càng quan trọng cho các dòng chảy năng lượng được chuyển hướng.
Thúc đẩy cuộc đua năng lượng sạch
Ngoài dầu mỏ, các loại hình năng lượng khác cũng đã được hưởng lợi từ cuộc khủng hoảng. Giá nhiên liệu hóa thạch tăng cao càng thúc đẩy nỗ lực chuyển đổi sang các nguồn năng lượng tái tạo như mặt trời, gió và thủy điện.
Ít nhất 26 quốc gia và khu vực, bao gồm Trung Quốc, Úc, Canada và Pháp, đã công bố các sáng kiến năng lượng sạch nhằm đối phó với cuộc chiến, theo Cơ quan Giám sát chính sách khủng hoảng năng lượng toàn cầu. Cơ quan Năng lượng quốc tế ước tính xe điện sẽ chiếm 29% tổng doanh số bán xe vào năm 2026, tỉ lệ cao nhất từ trước đến nay.
Jan Rosenow, giáo sư về chính sách năng lượng và khí hậu tại Đại học Oxford, phân tích rằng cuộc xung đột đã củng cố "lập luận mang tính cấu trúc" ủng hộ năng lượng tái tạo vào thời điểm nhu cầu đang chạm mức kỷ lục ở nhiều quốc gia.
"Tôi nghĩ ngày càng nhiều công ty kỳ vọng giá dầu và khí đốt sẽ duy trì ở mức cao trong thời gian tới. Điều đồng nghĩa áp lực về giá cả đòi hỏi từ bỏ nhiên liệu hóa thạch vẫn duy trì ở mức mạnh mẽ", Rosenow chia sẻ với Al Jazeera.
Than đá bỗng nhiên trở thành hàng hot vì cuộc xung đột. Vào tháng 8, nhà sản xuất than nhiệt Thungela Resources của Nam Phi thông báo lợi nhuận tăng gấp đôi trong nửa đầu năm 2026 do chiến tranh buộc nhiều quốc gia phải mua loại nhiên liệu này hơn.
Sản lượng tại các mỏ của Thungela tăng 38% trong thời kỳ đỉnh điểm cuộc xung đột. Dù giá than đã tăng, loại nhiên liệu này vẫn rẻ và sẵn có hơn nhiều so với dầu mỏ.
Kể từ khi chiến tranh bắt đầu, một số nước châu Á đã công bố kế hoạch tăng sản lượng điện sản xuất bằng than hoặc thu hẹp kế hoạch giảm tiêu thụ than. Indonesia, nước xuất khẩu than hàng đầu thế giới, vào tháng 3 đã đảo ngược các kế hoạch hạn chế sản xuất than và giảm tình trạng dư cung trước đó. Giá than đá ở mức 131,85 USD/tấn vào tháng 7, so với chỉ 102,20 USD vào năm trước.
Eo Hormuz và ngành vận tải biển toàn cầu
Sau 6 tháng diễn ra cuộc chiến giữa Mỹ - Israel và Iran, việc đóng cửa eo biển Hormuz tiếp tục là nguyên nhân dẫn đến một trong những biến cố gián đoạn vận tải biển nghiêm trọng nhất trong nhiều thập kỷ.
Lưu lượng tàu bè qua điểm nghẽn dài 33km này đã giảm từ hơn 100 tàu mỗi ngày xuống chỉ còn 5 tàu, làm gián đoạn dòng chảy dầu mỏ, khí đốt và hàng hóa trên toàn thế giới.
Hầu như mọi thứ mà bạn từng mua sắm, từ nhiên liệu trong xe đến ngũ cốc trong bánh mì, nhiều khả năng đều từng nằm trên boong tàu ngoài biển. Theo UNCTAD, Cơ quan Thương mại và phát triển của Liên hợp quốc, khoảng 80% khối lượng thương mại thế giới được vận chuyển bằng đường biển.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận