
Võ sĩ miền Trung rất được giới sử gia châu Âu đánh giá cao - Ảnh minh họa
Rất nhiều tư liệu lịch sử của châu Âu đánh giá miền Trung, Việt Nam có một nền võ nghệ đa dạng, từ cưỡi ngựa phóng lao đến sử dụng đao kiếm, khiên lớn và đánh giáp lá cà trên chiến thuyền.
Người miền Trung mạnh mẽ hơn cả người Trung Quốc, Nhật Bản?
Trong tác phẩm Relatione della nuova missione... al regno della Cocincina (Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong), xuất bản tại Rome năm 1631, giáo sĩ kiêm học giả người Ý Cristoforo Borri đã đưa ra những nhận xét đáng chú ý về thể chất và tinh thần của cư dân vùng đất này.
Ông Borri đến Đàng Trong năm 1618, từng hoạt động tại Hội An, Đà Nẵng và Nước Mặn (ven đầm Thị Nại), thuộc vùng Quy Nhơn ngày nay. Nên những ghi chép về dân Đàng Trong của ông có thể hiểu là tương ứng với những vùng đất miền Trung này.
Tại phần I, chương V, mang tên Delle qualità, conditioni, costumi de’ Cocincini... (Về phẩm chất, tính cách, phong tục của người Đàng Trong), Borri so sánh người Việt với người Trung Quốc và Nhật Bản.
Ông nhận xét người Đàng Trong có vóc dáng trung bình, không thấp bé như người Nhật, cũng không cao như người Trung Quốc. Tuy nhiên, họ lại "cường tráng, mạnh mẽ hơn cả hai".
Đặc biệt, ông đánh giá người Đàng Trong vượt người Trung Quốc về "tinh thần và sự quyết liệt khi chiến đấu" (d’animo, e di valore sono superiori alli Cinesi)
Những đánh giá này phản ánh góc nhìn cá nhân của Borri, không phải kết quả khảo sát thể lực giữa các dân tộc. Tuy nhiên, chúng cho thấy ấn tượng mạnh mẽ mà cư dân Đàng Trong để lại trong mắt một học giả châu Âu đầu thế kỷ XVII.
Vậy người Đàng Trong mà ông ca ngợi là ai?
Trong phần I, chương I của tác phẩm, Borri chia Đàng Trong thành năm vùng: Thuận Hóa, Quảng Nam, Quảng Nghĩa, Quy Nhơn và Phú Yên.
Đối chiếu địa giới trước năm 2025, những địa bàn ấy chủ yếu tương ứng với khu vực Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên, cùng những vùng phụ cận. Phạm vi cai quản của chúa Nguyễn sau đó tiếp tục mở rộng về phía Nam.
Như vậy, người Đàng Trong được Borri mô tả chủ yếu là cư dân miền Trung ngày nay, không phải bao gồm cả người miền Nam theo cách hiểu hiện đại.
Từ cưỡi ngựa phóng lao đến đánh giáp lá cà trên chiến thuyền
Giá trị đặc biệt trong ghi chép của Borri nằm ở những mô tả cụ thể về võ nghệ và binh khí.
Tại phần I, chương VII, Della potenza del Re della Cocincina, e delle guerre, che hà nel suo Regno (Về sức mạnh của vua Đàng Trong và những cuộc chiến trong vương quốc), ông cho biết cư dân nơi đây sở hữu nhiều giống ngựa tuy nhỏ nhưng khỏe mạnh, nhanh nhẹn.
Trên lưng ngựa, các chiến binh sử dụng kỹ thuật phóng lao (lanciando dardi) và thường xuyên luyện tập kỹ năng này.
Đó là hình thức chiến đấu đòi hỏi khả năng giữ thăng bằng, điều khiển ngựa và phối hợp động tác phóng vũ khí khi đang di chuyển.

Các sử gia châu Âu đánh giá cao người Đàng Trong cả ở kỹ thuật cưỡi ngựa và đâm lao - Ảnh minh họa
Borri còn mô tả loại khiên hình bầu dục, mặt lõm, đủ lớn để che gần như toàn bộ thân người. Dù kích thước lớn, loại mộc này tương đối nhẹ, giúp chiến binh thuận tiện thao tác.
Một chi tiết khác là sự hiện diện của kiếm Nhật, được Borri gọi là catane, thông qua hoạt động giao thương với Nhật Bản. Ông đặc biệt đánh giá cao chất lượng rèn của những thanh kiếm này.
Đáng chú ý hơn cả là kỹ năng cận chiến của thủy binh.
Theo Borri, những người chèo chiến thuyền Đàng Trong không đơn thuần đảm nhiệm công việc vận hành phương tiện. Khi giao chiến, họ lập tức cầm vũ khí chiến đấu.
Các loại binh khí được ông liệt kê gồm lao phóng, kiếm Nhật và đao cong.

Một số võ sinh ở Bình Định ngày nay - Ảnh: SHUTTERSTOCK
Borri viết rằng họ “combattono valorosamente”, nghĩa là chiến đấu dũng cảm. Ông còn mô tả người Đàng Trong có trái tim “intrepido, & valoroso” - gan dạ, không biết sợ.
Chiến thuật được nhắc đến là sử dụng mái chèo đưa chiến thuyền áp sát đối phương, sau đó triển khai các loại vũ khí để giao chiến.
Dưới góc độ võ thuật, cách đánh này đòi hỏi người lính kết hợp nhiều kỹ năng: chèo thuyền, giữ thăng bằng, phối hợp đội hình và sử dụng binh khí trong không gian chật hẹp, thường xuyên rung lắc.
Borri cũng từng chứng kiến các cuộc thủy chiến giả và đua chiến thuyền được tổ chức dưới sự bảo trợ của quan trấn thủ Quy Nhơn. Những cuộc diễn tập, tranh tài này cho thấy kỹ năng điều khiển thuyền được coi trọng trong sinh hoạt quân sự đương thời.
Người Tây Ban Nha cũng hết lời ca ngợi
Không chỉ Borri, giáo sĩ dòng Đa Minh người Tây Ban Nha Domingo Fernández Navarrete cũng dành những lời đánh giá đặc biệt cho lực lượng Đàng Trong.
Trong tác phẩm Tratados históricos, políticos, éticos, y religiosos de la monarquía de China (1676), ông nhận xét quân đội Đàng Trong thuộc hàng giỏi nhất trong khu vực, được huấn luyện có kỷ luật.
Nội dung này được ghi tại chương XXXI, mục 5, trang 381, tập II của bản tuyển dịch The Travels and Controversies of Friar Domingo Navarrete, do J.S. Cummins biên tập, Hakluyt Society xuất bản năm 1962.

Tác phẩm của ông Borri ghi chép về võ thuật Đàng Trong - Ảnh: GONNELLI
Navarrete còn ca ngợi sự thiện chiến và khả năng vận hành những chiến thuyền nhẹ trên sông. Theo ông, Đàng Trong duy trì được sức mạnh trước Đàng Ngoài dù thua kém về dân số và nguồn lực.
Tuy nhiên, khác Borri, Navarrete chưa từng trực tiếp đến Đàng Trong. Những đánh giá của ông một phần dựa trên thông tin thu thập từ người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.
Về thực tế chiến đấu, sử gia Li Tana trong công trình Nguyen Cochinchina: Southern Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries (Cornell University Press, 1998) còn dẫn ghi chép của người Anh Charles Chapman về loại câu liêm cán dài 5-6,5m được binh sĩ sử dụng.
Bà nhận định loại binh khí này có thể dùng móc giữ thuyền địch, tạo điều kiện cho binh sĩ vượt sang đánh cận chiến. Tuy nhiên, Chapman ghi chép vào cuối thế kỷ 18, muộn hơn nhiều so với thời Borri.
Một minh chứng thực tế về sức chiến đấu của thủy quân chúa Nguyễn là trận ngày 7-7-1643. Theo hồ sơ lịch sử hàng hải Hà Lan, khoảng 50 chiến thuyền Đàng Trong chủ động tấn công ba tàu của Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC), khiến chiếc Wijdenes nổ tung, hai tàu còn lại phải rút chạy.
Trận đánh cho thấy khả năng điều khiển đội thuyền nhỏ phối hợp tấn công đối phương. Tuy vậy, không thể quy chiến thắng hoàn toàn cho kỹ năng giáp lá cà, bởi hỏa lực cũng đóng vai trò quan trọng.
Nhìn từ những tư liệu châu Âu, võ nghệ Đàng Trong không chỉ nằm ở lòng dũng cảm. Đó còn là sự kết hợp giữa thể lực, kỹ năng sử dụng nhiều loại binh khí, khả năng tác chiến linh hoạt và tính kỷ luật.
Chính những phẩm chất ấy đã góp phần tạo nên hình ảnh những chiến binh miền Trung dũng mãnh trong ghi chép của người phương Tây gần bốn thế kỷ trước.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận