
Học sinh một trường tiểu học tại TP.HCM trao đổi với giáo viên nước ngoài, trong buổi sinh hoạt câu lạc bộ tiếng Anh - Ảnh: MỸ DUNG
Nhưng nếu chỉ tăng tiết, treo khẩu hiệu song ngữ hoặc chạy theo chứng chỉ, chúng ta có thể tạo thêm áp lực mà chưa tạo được năng lực. Điều cần thiết là một lộ trình phân tầng, công bằng, đặt khả năng sử dụng ngôn ngữ trong đời sống học đường làm thước đo.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến dự thảo thông tư quy định tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá các cơ sở giáo dục trong triển khai đề án đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai. Các trường dự kiến được xác định theo ba mức độ: khởi đầu, phát triển và phát triển cao. Kết quả dùng để nhận diện thực trạng, cải tiến chất lượng, không dùng để xếp hạng hay tạo áp lực so sánh.
Tôi cho rằng cách tiếp cận này đúng về nguyên tắc. Quyết định số 2371/QĐ-TTg ngày 27-10-2025 đã xác lập lộ trình đến năm 2035, tầm nhìn 2045. Một mục tiêu kéo dài hai thập niên không thể được thực hiện bằng chiến dịch ngắn hạn. Mỗi địa phương, cấp học và nhà trường có điểm xuất phát khác nhau, buộc cùng chạy một tốc độ chỉ làm nơi thuận lợi tiến nhanh hơn, còn trường khó khăn dễ rơi vào đối phó.
Không phải chỉ là học thêm tiếng Anh
Cần phân biệt dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ với xây dựng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
Ở mô hình thứ nhất, học sinh chủ yếu học trong giờ, làm bài tập và dự thi. Ở mô hình thứ hai, tiếng Anh dần trở thành phương tiện tiếp cận tri thức, giao tiếp, hợp tác và tham gia hoạt động giáo dục. Khác biệt nằm ở tần suất, mục đích và tính tự nhiên của việc sử dụng, không chỉ ở số tiết trên thời khóa biểu.
Vì vậy tăng thêm vài tiết mỗi tuần chưa chắc tạo được môi trường ngôn ngữ thứ hai. Nếu lớp học vẫn nặng dịch, chép cấu trúc, luyện đề và học sinh ngại nói ngoài giờ, tiếng Anh vẫn chỉ là một môn học. Ngược lại, trường có nguồn lực vừa phải nhưng tổ chức câu lạc bộ, dự án đọc, thuyết trình, góc học liệu số và những tình huống giao tiếp đơn giản có thể tạo chuyển biến thực chất hơn.
Điểm tích cực của dự thảo là nhìn vấn đề theo hệ sinh thái gồm chương trình, đội ngũ, học liệu, cơ sở vật chất, chuyển đổi số, giao tiếp và quản trị. Nhưng tiêu chí chỉ có ý nghĩa khi minh chứng phản ánh hoạt động thật. Nếu câu lạc bộ được lập để chụp ảnh, bảng hiệu song ngữ được xem là thành tích và báo cáo tự đánh giá trở thành thêm một tập hồ sơ, chủ trương tốt sẽ nhanh chóng bị hành chính hóa.
Thách thức lớn nhất vẫn là đội ngũ. Đây không chỉ là việc của giáo viên tiếng Anh. Khi trường tiến tới dạy một phần khoa học, công nghệ hoặc giáo dục nghề nghiệp bằng tiếng Anh, giáo viên bộ môn phải đồng thời có năng lực chuyên môn, ngoại ngữ và phương pháp tích hợp nội dung với ngôn ngữ. Yêu cầu ấy không thể được giải quyết bằng vài khóa bồi dưỡng ngắn ngày, hoặc một chứng chỉ chuẩn hóa.
Cũng cần nhìn thẳng vào khoảng cách điều kiện. Học sinh đô thị thường có nhiều cơ hội tiếp xúc giáo viên, học liệu và công nghệ; trong khi một số khu vực còn thiếu giáo viên ngoại ngữ, thiết bị và kết nối. Nếu bộ tiêu chí không đi cùng chính sách phân bổ nguồn lực, tiếng Anh có thể trở thành một tầng lọc mới của bất bình đẳng: nhóm đã thuận lợi càng có lợi thế, nhóm yếu thế lại gánh thêm cảm giác tụt hậu.
Một rủi ro khác là hiểu ngôn ngữ thứ hai thành dùng tiếng Anh càng nhiều càng tốt. Điều này không đúng về giáo dục học. Tiếng mẹ đẻ giữ vai trò nền tảng trong phát triển tư duy, cảm xúc và bản sắc. Ép dùng tiếng Anh khi người dạy, người học chưa sẵn sàng có thể làm giảm chiều sâu nhận thức. Mục tiêu không phải thay thế tiếng Việt, mà bổ sung công cụ để học sinh bước ra thế giới và vẫn đứng vững trong văn hóa của mình.
Cần lộ trình đo bằng năng lực sử dụng
Theo tôi, mỗi trường nên bắt đầu bằng một hồ sơ sẵn sàng ngôn ngữ, trả lời những câu hỏi cụ thể: giáo viên nào đủ năng lực; học sinh đang ở trình độ nào; môi trường hiện có bao nhiêu cơ hội sử dụng tiếng Anh; phụ huynh có thể đồng hành đến đâu; trường đang thiếu học liệu, thiết bị hay nhân lực gì. Từ đường cơ sở ấy, nhà trường chọn mục tiêu vừa sức cho từng năm học, thay vì lập ngay kế hoạch đạt mức cao.
Cần phân biệt chuẩn tối thiểu quốc gia với mục tiêu phát triển theo bối cảnh. Chuẩn tối thiểu bảo đảm mọi học sinh được tiếp cận tiếng Anh có chất lượng; chỉ tiêu nâng cao phải linh hoạt theo vùng, cấp học và loại hình đào tạo. Trường khó khăn có thể ưu tiên đủ giáo viên, giao tiếp cơ bản và học liệu dùng chung. Trường đã sẵn sàng có thể triển khai dự án liên môn hoặc dạy một phần môn học bằng tiếng Anh.
Đầu tư cho giáo viên phải được xem là hạ tầng cốt lõi. Việc bồi dưỡng cần dài hạn, có thực hành, cố vấn tại chỗ và cộng đồng chuyên môn giữa giáo viên ngoại ngữ với giáo viên bộ môn. Người học xong phải chứng minh được năng lực thiết kế bài dạy, điều chỉnh ngôn ngữ theo trình độ học sinh và đánh giá cả nội dung lẫn khả năng giao tiếp. Chứng chỉ chỉ nên là một căn cứ, không thể thay thế năng lực đứng lớp.
Cách đánh giá cũng phải chuyển từ đếm hoạt động sang đo khả năng sử dụng. Thay vì hỏi trường tổ chức bao nhiêu ngày hội tiếng Anh, hãy xem học sinh có thể dùng ngôn ngữ để tìm thông tin, trao đổi với bạn, trình bày ý tưởng, đọc tài liệu hay hoàn thành dự án đến đâu. Bên cạnh đầu ra, cần đo sự tiến bộ, mức độ tự tin của học sinh yếu và khoảng cách giữa các nhóm.
Cơ chế ba mức độ chỉ thật sự nhân văn khi "đánh giá để hỗ trợ". Trường ở mức khởi đầu phải được ưu tiên ngân sách, nhân lực và học liệu, không bị gắn nhãn yếu kém. Trường ở mức cao cần chia sẻ tài nguyên và giáo viên nòng cốt. Nếu các mức độ trở thành danh hiệu tuyển sinh hoặc tiêu chí thi đua cứng, cuộc chạy đua thành tích sẽ xuất hiện và làm sai mục tiêu cải tiến.
Ở góc độ một giảng viên ngoại ngữ, tôi ủng hộ đưa tiếng Anh ra khỏi phạm vi một môn thi để trở thành công cụ học tập và giao tiếp. Nhưng thành công không nằm ở số trường tự nhận mức cao hay số biển bảng song ngữ. Thành công phải được nhìn thấy ở học sinh vùng khó có thể tự tin tìm hiểu thế giới, ở giáo viên biết dùng tiếng Anh đúng lúc và ở lớp học nơi ngôn ngữ mở rộng cơ hội thay vì tạo thêm sợ hãi.
Bởi vậy, "làm từng bước" không có nghĩa là làm chậm, mà là làm có thứ tự: khảo sát đúng, đầu tư đúng, thí điểm có đánh giá, mở rộng khi đủ điều kiện và hỗ trợ nơi còn yếu.
Khi tiếng Anh hiện diện tự nhiên trong học tập, giao tiếp và sáng tạo, nó mới thật sự trở thành ngôn ngữ thứ hai. Nếu chỉ hiện diện trong hồ sơ, khẩu hiệu và áp lực thi cử, chúng ta mới thay tên mục tiêu, chứ chưa thay đổi chất lượng giáo dục.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận