
Âm nhạc thường không thể thiếu trong phần lớn quán nhậu tại TP.HCM - Ảnh: ĐỨC THIỆN
Theo tìm hiểu của Tuổi Trẻ, việc thu phí bản quyền âm nhạc tại các cơ sở kinh doanh, hàng, quán ở nhiều nước trên thế giới diễn ra linh hoạt, tùy thuộc nhiều yếu tố.
Từ vài triệu đến hàng trăm triệu đồng
Chẳng hạn, tại Anh, một quán cà phê khoảng 30 chỗ ngồi thường phải trả từ 350 - 700 bảng Anh mỗi năm (tương đương khoảng 12,5 - 25 triệu đồng). Một nhà hàng khoảng 80 chỗ ngồi đóng mức phí khoảng 700 - 1.400 bảng Anh, tương đương 25 - 50 triệu đồng mỗi năm.
Tại Mỹ, chi phí cấp phép âm nhạc cho một quán cà phê nhỏ dao động khoảng 200 - 500 USD/năm (khoảng 5,2 - 13 triệu đồng). Còn một nhà hàng quy mô trung bình phải chi từ 500 - 1.500 USD, tương đương 13 - 39 triệu đồng mỗi năm.
Đối với khách sạn, mức phí cao hơn do âm nhạc được sử dụng tại nhiều khu vực như sảnh, nhà hàng, hồ bơi hay phòng gym. Một khách sạn cỡ nhỏ khoảng 40 phòng tại Anh có thể phải trả 1.500 - 4.000 bảng Anh/năm (khoảng 54 - 143 triệu đồng), còn tại Mỹ mức phí dao động 1.200 - 3.500 USD/năm, tương đương 31 - 91 triệu đồng.
Các con số trên chỉ mang tính tham khảo. Chi phí bản quyền thực tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như quy mô cơ sở, sức chứa, thời gian hoạt động, số khu vực phát nhạc và biểu phí do từng tổ chức quản lý quyền tác giả áp dụng.
Ngoài ra, đây là phí bản quyền âm nhạc, tách biệt với chi phí thuê bao các dịch vụ phát nhạc như Spotify hay YouTube Premium.
Linh hoạt theo địa phương
Chia sẻ với Tuổi Trẻ, phó giáo sư Nguyễn Văn Thăng Long, Phó chủ nhiệm bộ môn truyền thông chuyên nghiệp (Đại học RMIT Việt Nam), trong bối cảnh phần lớn hàng quán ở Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, ông Long cho rằng cần có cách triển khai phù hợp để cân bằng giữa việc bảo vệ quyền tác giả và khả năng chi trả của doanh nghiệp.
Theo đó, có thể thí điểm tại một số địa phương có điều kiện quản lý tốt trước khi áp dụng trên diện rộng; tiếp tục xác định mức phí dựa trên quy mô khai thác và khả năng chi trả, đồng thời bổ sung tiêu chí theo khu vực địa lý hoặc loại đô thị.
Bên cạnh đó, nên có ngưỡng miễn hoặc giảm phí cho các cơ sở siêu nhỏ, đặc biệt ở khu vực nông thôn, và xây dựng lộ trình tăng phí trong 3-5 năm để doanh nghiệp có thời gian thích ứng và đưa chi phí bản quyền vào cấu trúc giá.
“Thay vì chỉ dùng chế tài phạt hay ép buộc ngay từ đầu, cần giúp các chủ quán hiểu rằng âm nhạc là một loại tài sản giúp họ kiếm tiền, và trả tiền cho âm nhạc là đầu tư cho trải nghiệm khách hàng”, phó giáo sư này đề xuất.
Đối với doanh nghiệp kinh doanh (quán cà phê, nhà hàng), về ngắn hạn đây có thể là một phần chi phí phát sinh, gây khó khăn nhất định cho hoạt động kinh doanh. Nhưng đảm bảo bản quyền giúp doanh nghiệp hoạt động an tâm, chuyên nghiệp, tránh các rủi ro pháp lý. Khi có cơ chế rõ ràng, mức phí hợp lý, khoản chi này sẽ không còn là gánh nặng quá lớn và dần được tính toán kỹ hơn trong kế hoạch kinh doanh.
Việt Nam đang ở đâu so với thế giới?
Trao đổi với Tuổi Trẻ, LS Phan Vũ Tuấn cho biết nếu so với Mỹ, châu Âu hay Hàn Quốc, Việt Nam vẫn đi sau về mức độ chuyên nghiệp của hệ thống cấp phép, thu - phân phối tiền bản quyền, cơ sở dữ liệu tác phẩm và cơ chế xử lý tranh chấp trên nền tảng số.
Ở Mỹ, cơ chế DMCA (Đạo luật Bản quyền kỹ thuật số thiên niên kỷ) đã tồn tại từ năm 1998 để điều chỉnh quan hệ giữa bản quyền và Internet.
Châu Âu đã có Điều 17 của Chỉ thị bản quyền số, đặt trách nhiệm lớn hơn lên các nền tảng chia sẻ nội dung trực tuyến; còn Hàn Quốc có hệ sinh thái công nghiệp âm nhạc rất phát triển, với các tổ chức quản lý tập thể và cơ chế bảo vệ bản quyền gắn chặt với ngành giải trí.
Tuy nhiên trong vài năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực, đặc biệt trong xử lý vi phạm bản quyền trên không gian mạng. Chẳng hạn việc xử lý các website phim lậu như Phimmoi, Fmovies và gần đây là các vụ án về xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan…
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận