
TS Ngô Phẩm Trân (thứ năm từ phải qua) được Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài TP.HCM vinh danh kiều bào tiêu biểu, đóng góp tích cực cho TP trong 50 năm (1975-2025) - Ảnh: NGỌC ĐỨC
Đằng sau những con số ấn tượng đó là sự đóng góp thầm lặng của nhiều kiều bào tâm huyết, những "chiếc cầu nối" đưa nguồn lực quốc tế về xây dựng quê hương.
Tuổi Trẻ trò chuyện cùng TS Ngô Phẩm Trân, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam - Đài Loan (VTBA) và TS Trần Hải Linh, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc (VKBIA).
Họ là những kiều bào tiên phong trong sứ mệnh kết nối dòng vốn từ hai đối tác trọng yếu: Hàn Quốc - nhà đầu tư lũy kế lớn nhất với hơn 95 tỉ USD và Đài Loan - nơi sở hữu hàng loạt tập đoàn công nghệ đang trong làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng sang Việt Nam.

TS Trần Hải Linh
Cơ duyên làm ông mai, bà mối
* Từ hành trình cá nhân sang đất khách, cơ duyên nào đã đưa anh/chị đến vai trò kết nối đầu tư giữa hai nước?
- TS Ngô Phẩm Trân: Tôi sang Đài Loan khoảng năm 1998. Lúc đó cộng đồng người Việt còn rất ít, người Đài Loan biết về Việt Nam ít lắm nên cũng bị kỳ thị.
Điều đó trở thành động lực để tôi phấn đấu học hành và khẳng định vị thế của người Việt trên đất khách. Sau một thời gian, tôi có duyên làm việc tại Trung tâm Văn hóa người nước ngoài ở Đài Bắc, tiếp cận được nhiều luật và quy định dành cho người nhập cư.
Khoảng năm 2011, tôi phát hành tạp chí Quê Hương song ngữ Việt - Hoa. Đây là ấn phẩm vừa để thay đổi hình ảnh Việt Nam trong mắt người Đài Loan vừa để truyền tải các chính sách phúc lợi cho cộng đồng người Việt bên này.
Nhờ tạp chí, tôi có cơ hội phỏng vấn nhiều lãnh đạo cấp cao và chủ tịch các tập đoàn Đài Loan. Từ đó tôi nhận ra họ đã đầu tư vào Việt Nam khá đông ở miền Nam nhưng còn rất nhiều cơ hội nếu họ hiểu Việt Nam nhiều hơn. Đó là động lực thôi thúc tôi chuyển sang làm xúc tiến đầu tư.
Năm 2017, khi Đài Loan triển khai Chính sách hướng nam mới, tôi được lãnh đạo Văn phòng Kinh tế văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc gợi ý thành lập một tổ chức gắn kết doanh nghiệp Đài Loan với Việt Nam, thường xuyên đưa họ về Việt Nam để phát triển và mở rộng đầu tư. VTBA ra đời từ đó, đến nay đã gần 10 năm.
- TS Trần Hải Linh: Tôi sang Hàn Quốc đầu những năm 2000 theo chương trình hợp tác khoa học, sau đó quyết định ở lại làm nghiên cứu tại Đại học Inha (Incheon).
Quãng thời gian trong phòng lab giúp tôi tiếp cận hệ sinh thái công nghệ và đổi mới sáng tạo phát triển của Hàn Quốc nhưng cũng là lúc tôi nhận ra một "khoảng trống" về tiềm năng hợp tác Việt - Hàn. Nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc có nhu cầu mở rộng sang Việt Nam nhưng thiếu thông tin, đối tác phù hợp. Phía bên kia, các doanh nghiệp Việt Nam lại gặp hạn chế về tiếp cận công nghệ, quản trị và thị trường quốc tế.
Chính từ thực tiễn đó, tôi chuyển dần vai trò từ một nhà nghiên cứu thuần túy sang người kết nối giữa hai hệ sinh thái, tham gia sâu hơn vào các hoạt động xúc tiến đầu tư, kết nối doanh nghiệp và hỗ trợ triển khai các dự án hợp tác cụ thể.
Qua quá trình làm Chủ tịch Tổng hội người Việt Nam tại Hàn Quốc và Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam tại Hàn Quốc, tôi nhận ra cần có một tổ chức đủ uy tín và nguồn lực để kết nối cộng đồng doanh nghiệp - nhà đầu tư hai nước thay vì những hoạt động rời rạc, riêng lẻ.
Quá trình vận động thành lập không hề đơn giản, mọi thứ gần như bắt đầu từ con số không. Chúng tôi vừa phải hoàn thiện hồ sơ pháp lý vừa phải đi từng bước xây dựng lại mạng lưới, thuyết phục các doanh nghiệp, đồng sự tham gia. Năm 2019, VKBIA ra mắt chính thức.
Lễ ra mắt hiệp hội có sự tham gia của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, khi đó là Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam. Đó chính là sự động viên khích lệ lớn nhất cho bản thân tôi và cộng sự cho những ngày đầu tổ chức các hoạt động kết nối đầu tiên.

TS Ngô Phẩm Trân
Kết nối nhiều "đại bàng" công nghệ
* Anh/chị hãy kể lại một hành trình kết nối cụ thể đã tham gia. Đâu là nhận xét khiến anh/chị nhớ mãi?
- Ngô Phẩm Trân: Lần đầu tiên tôi đưa đoàn về Việt Nam là năm 2022. Đó là đoàn của Công hội Điện tử toàn Đài Loan (TEEMA) - tổ chức tập hợp hơn 3.000 doanh nghiệp thành viên và chiếm phần lớn giá trị sản xuất và xuất khẩu điện tử Đài Loan.
Khoảng 30 tập đoàn tham gia chuyến đi đầu tiên, khảo sát hơn 10 tỉnh miền Bắc và miền Trung. Khi doanh nghiệp điện tử dịch chuyển, họ phải đem cả chuỗi cung ứng theo. Do đó, họ nghiên cứu rất kỹ.
Trong chuyến đi đó, trưởng đoàn TEEMA đồng thời là lãnh đạo một tập đoàn "đại bàng" điện tử Đài Loan, đã nói điều khiến tôi nhớ mãi: "Ấn tượng đầu tiên về Việt Nam là không có sự quy hoạch, không có điểm nhấn. Đi tỉnh nào cũng giống tỉnh nào, khu công nghiệp nào cũng giống khu công nghiệp nào".
Ông góp ý Việt Nam nên quy hoạch từng ngành nghề ở những khu vực khác nhau để hình thành chuỗi cung ứng tập trung. Không thể để chuỗi cung ứng rời rạc, phải đi mấy trăm cây số đến tỉnh khác lấy linh kiện. Làm như thế sẽ đẩy giá thành lên rất cao và không hiệu quả khi nhà đầu tư chọn Việt Nam. Nói cách khác, phát triển công nghiệp phải quy hoạch khu tập trung, phải có điểm nhấn từng vùng miền.
Chúng tôi tổ chức đoàn liên tục ba năm (2022-2024), tổng cộng đi khoảng 30 tỉnh thành, 40-50 khu công nghiệp. Từ năm thứ hai, tôi đưa ra ý tưởng xây dựng khu công nghiệp tập trung theo ngành để các doanh nghiệp cùng chuỗi cung ứng ở gần nhau.
Khi đưa ý tưởng này đến Hưng Yên, lãnh đạo tỉnh lập tức ngồi lại họp chung cùng đoàn doanh nghiệp Đài Loan, bày tỏ mong muốn triển khai mô hình. Sáu doanh nghiệp đăng ký đầu tư ngay trong chuyến đi. Trong vòng khoảng sáu tháng, chuỗi cung ứng điện tử đầu tiên tại Hưng Yên bắt đầu hình thành. Đến nay khu công nghiệp đó đã lấp kín với hơn 10 tập đoàn đã vào.
Song song đó tôi cũng đồng hành với Tập đoàn Foxlink - nhà cung ứng linh kiện cho Apple, Microsoft, Google - trong vai trò cố vấn. Sau khi khảo sát khắp Bắc, Trung, Nam, họ chọn Đà Nẵng vì có khu công nghệ cao nhưng chưa có "đại bàng" nào, không lo thiếu nhân lực, chính quyền lại rất năng động. Foxlink đã đầu tư 135 triệu USD vào đây.
Hiện nay mô hình cụm cung ứng tập trung đang được nhân rộng tại Ninh Bình xung quanh "đại bàng" Quanta. Một số khu công nghiệp khác cũng đang triển khai. Hy vọng mỗi năm có thêm 1-2 chuỗi cung ứng tập trung, thu hút thêm doanh nghiệp phụ trợ đi vào.
- Trần Hải Linh: VKBIA trực tiếp tổ chức hoặc đồng tổ chức nhiều chương trình kết nối theo lĩnh vực: du lịch, giao thương hàng hóa, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp công nghệ cao…
Gần đây chúng tôi nỗ lực kết nối địa phương. Trong đó có việc thành lập Trung tâm Đào tạo và chuyển giao công nghệ Việt - Hàn tại tỉnh Gia Lai. Chúng tôi cũng làm đầu mối kết nối các chuyến thăm, khảo sát của các đoàn cấp cao đến Thung lũng công nghệ cao Pangyo và các viện nghiên cứu hàng đầu Hàn Quốc.
Từ đó chúng tôi hình dung ra mô hình phù hợp nhất với Việt Nam: "hệ sinh thái công nghệ - đổi mới sáng tạo gắn với địa phương", kết nối đồng bộ bốn thành tố: đào tạo nhân lực, R&D, doanh nghiệp công nghệ và hạ tầng, chính sách hỗ trợ.
Tại Pangyo, điều chúng tôi học được không chỉ là hạ tầng hiện đại mà là cách tạo ra một hệ sinh thái nơi doanh nghiệp lớn, start-up, viện nghiên cứu và trường đại học cùng tương tác, chia sẻ và phát triển.
Qua các chuyến khảo sát, chúng tôi nhận thấy nhiều nhà đầu tư Hàn Quốc đánh giá cao tốc độ ra quyết định và sự linh hoạt của một số địa phương Việt Nam. Tuy nhiên lời "chê" đáng suy ngẫm nhất nằm ở tính nhất quán: cùng một vấn đề nhưng cách hiểu và xử lý có thể khác nhau giữa các cấp, các địa phương hoặc thay đổi theo thời gian.

TS Trần Hải Linh và VKBIA đón đoàn công tác cấp cao Việt Nam thăm Thung lũng công nghệ cao Pangyo (Hàn Quốc) tháng 8-2025 - Ảnh: NVCC
Cơ hội lớn chờ đón Việt Nam
* Nhìn về tương lai, cơ hội lớn nhất và thách thức cấp bách nhất đối với Việt Nam trong việc thu hút dòng vốn công nghệ cao là gì?
- Ngô Phẩm Trân: Từ năm 2026, làn sóng đầu tư mới đang hơi chững lại vì các "đại bàng" điện tử lớn của Đài Loan đều đã vào Việt Nam rồi. Nhiệm vụ bây giờ không còn là thu hút mà là giữ chân và mở rộng chiều sâu.
Thách thức lớn nhất là chuỗi cung ứng nội địa chưa hoàn chỉnh. Rất nhiều sản phẩm phải mua từ nước ngoài về mới hoàn chỉnh thành phẩm. Hiện rất ít doanh nghiệp Việt Nam đủ điều kiện trở thành nhà cung ứng. Dù chỉ cung cấp một con vít nhỏ cho Apple thôi cũng phải qua kiểm định rất nghiêm ngặt của các tổ chức quốc tế.
Các doanh nghiệp Đài Loan sẵn sàng liên doanh, cổ phần, chuyển giao công nghệ cho đối tác Việt Nam. Nhưng phía Việt Nam, doanh nghiệp xung phong tham gia làm nhà cung ứng còn rất ít. Tại sao nhất định phải 100% sở hữu vốn Việt Nam?
Mình có thế mạnh: đất đai, hiểu địa phương. Người ta có công nghệ. Nếu cùng hợp tác, cuối cùng vẫn sẽ là công ty của Việt Nam. Đi nhanh là phải đi có đoàn có đội, đừng nên đi lẻ.
- Trần Hải Linh: Việc các tập đoàn như Samsung và LG thành lập trung tâm R&D tại Việt Nam cho thấy dòng vốn đầu tư Hàn Quốc đang chuyển từ "sản xuất - lắp ráp" sang "nghiên cứu - phát triển và đổi mới sáng tạo". Điều đó mở ra một cơ hội lớn: Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng cao nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Nhưng trong quá trình chuyển sang "thế hệ đầu tư mới" này, các đối tác Hàn Quốc không còn tìm kiếm những lợi thế truyền thống đơn thuần mà đặt ra những yêu cầu cao hơn và mang tính dài hạn hơn. Họ tìm kiếm nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng tham gia trực tiếp vào các khâu nghiên cứu, thiết kế, phát triển sản phẩm.
Họ cũng cần một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, bởi một trung tâm R&D không thể hoạt động hiệu quả nếu đứng độc lập.
Xa hơn, các đối tác Hàn Quốc cũng tìm kiếm khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Họ không chỉ muốn đặt trung tâm nghiên cứu mà còn muốn xây dựng mạng lưới cung ứng tại chỗ, tức là các doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực tham gia vào quá trình phát triển sản phẩm, linh kiện, giải pháp công nghệ. Các đối tác Hàn Quốc không chỉ tìm kiếm ở Việt Nam một cứ điểm sản xuất mà là một đối tác phát triển thực sự trong chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.
Trong quá trình đó, nếu phải nói một điều cần thay đổi ngay để không vuột mất cơ hội thì đó là nâng cấp mạnh mẽ tính minh bạch, nhất quán và tốc độ của thể chế. Nếu một dự án R&D mất quá nhiều thời gian phê duyệt hoặc chính sách thay đổi thiếu nhất quán, nhà đầu tư hoàn toàn có thể chuyển sang quốc gia khác.

Ông Trần Hải Linh mang hệ thống năng lượng mặt trời do doanh nghiệp Việt Nam tại Hàn Quốc đóng góp ra lắp đặt tại Trường Sa - Ảnh: N.T.U.
Khát khao đóng góp cho quê hương
TS Ngô Phẩm Trân chia sẻ rằng 30 năm trước, nghe chị nói đến từ Việt Nam là người ta bảo "Việt Nam nghèo lắm". Còn bây giờ chị tự hào nói: "Tôi đến từ Việt Nam, Việt Nam phát triển lắm".
Hạnh phúc đối với chị Trân là được đóng góp trong phát triển kinh tế vì theo chị, từng doanh nghiệp chị kết nối với quê hương tạo rất nhiều công ăn việc làm cho người dân. "Khi đất nước phát triển, cộng đồng người Việt ở nước ngoài được nhìn với con mắt khác, vị thế được khẳng định" - chị nói.
Còn điều khiến TS Trần Hải Linh suy nghĩ nhiều nhất là kế thừa và mở rộng mạng lưới. "Một cá nhân hay một tổ chức không thể làm tất cả.
Có lẽ hành trình này không có điểm kết thúc. Với tôi, điều quan trọng nhất vẫn là giữ được câu hỏi thuở ban đầu trong phòng lab: tri thức mình có được trong những năm tháng ở nước ngoài có thể đóng góp gì cho sự phát triển của đất nước?" - anh tâm sự.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận