
Người dân xã Nam Trà My, TP Đà Nẵng thu hoạch keo - Ảnh: B.D.
Tuổi Trẻ tiếp tục đăng các ý kiến để mở rộng vấn đề cần nghiên cứu thêm.
Cần hiểu đúng quy luật sinh trưởng cây keo
Trao đổi với Tuổi Trẻ, TS Chu Mạnh Trinh - chuyên gia bảo tồn đa dạng sinh học, nguyên giảng viên Trường đại học sư phạm, Đại học Đà Nẵng - khẳng định cần nắm bắt đầy đủ quy luật sinh trưởng, phát triển của cây keo để đảm bảo hài hòa mục tiêu kép khai thác giá trị kinh tế và phòng chống sạt lở.
Theo TS Trinh, hiện diện tích rừng trồng ở miền Trung, đặc biệt là vùng nông thôn tại TP Đà Nẵng, chủ yếu là keo. Loài cây lâu nay tạo nguồn sinh kế, thu nhập cho bà con trên diện tích đất khó trồng các loài cây ngắn ngày, cây ăn quả.
Về mối liên quan các sự cố môi trường tại vùng cao Đà Nẵng gần đây được cho là có yếu tố từ cây keo, ông Trinh cho rằng cần hiểu đúng đặc tính, vòng đời sinh trưởng và cả cách thức khai thác của cây keo để có góc tiếp cận hợp lý.
"Cây keo thuộc họ đậu, là loài cây mà bộ rễ có khả năng tạo dinh dưỡng để nuôi cây. Về bản chất, đây là loài cây rừng, không phải cây hoa màu ngắn ngày. Tuổi đời cây keo thường kéo dài lên tới 20 năm, giai đoạn năm năm đầu tiên cây phát triển dữ dội và bộ rễ hút nước rất nhiều.
Từ năm thứ sáu trở đi cây bắt đầu phát triển cành và càng về sau thì thân càng lớn và góp phần tạo hệ sinh thái môi trường bao quanh nơi cây keo sinh trưởng" - ông Trinh nói.
Chính vì vòng đời sinh trưởng lên tới 20 năm, giai đoạn quan trọng nhất của cây keo đóng góp cho môi trường, phòng chống sạt lở đất lại rơi vào 1/2 thời gian sinh trưởng phía sau nên theo TS Trinh, nếu hiểu cho đúng ngọn ngành thì tuyệt đối không nên chặt keo từ 4-5 năm đổ lại.
Lâu nay đang có sự nhầm lẫn, hiểu chưa đầy đủ về kiến thức sinh trưởng cây keo dẫn đến việc khai thác quá sớm, chỉ tập trung góc độ kinh tế của cây keo mà chưa để cây phát huy khả năng giữ rừng.
"Cây keo năm năm đầu bộ rễ phát triển tối đa, hút nước dữ dội, thân phát triển thẳng đứng nên chúng ta đi trong rẫy keo lúc này thường có cảm giác khô nóng, oi bức, các loài cây khác gần như không thể mọc được.
Từ năm thứ 8, thứ 10 trở đi cây mới ổn định, rễ lúc này đã ôm chặt vào lòng đất tạo ra lớp màng bọc xung quanh. Quanh cây keo lúc này hoàn toàn có thể trồng thêm các loài cây khác chứ không giống như giai đoạn khô khốc lúc keo 4-5 tuổi.
Do đó hiểu cho đúng thì cây keo không "phá rừng", gây sạt lở đất mà hoàn toàn có khả năng giữ nước, cải tạo đất, tạo lớp thực vật bề mặt" - ông Trinh khẳng định.
TS Trinh cũng cho biết hiện đa phần keo được trồng để khai thác kinh tế, mới 4-5 tuổi đã chặt trụi, đây là lúc keo đang lấn át các loài cây khác, ít "đóng góp" cho môi trường. Hơn nữa, việc khai thác keo theo kiểu chặt trụi, đốt sạch thực bì đồng loạt, khi thu hoạch lại móc đất mở đường lên sườn đồi vô tình tạo ra những rủi ro lớn hơn cho môi trường.
Thảm bề mặt rừng gần như không có lớp ngăn thấm, chống xói mòn và thâm nhập nước; các đường rãnh cho xe chở keo lại gia tăng nguy cơ sạt lở nhiều hơn.
Cùng quan điểm, TS Ngô Trí Dũng - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và tư vấn quản lý tài nguyên (CORENARM, Huế) - cũng cho rằng keo thuần loài có các ưu nhược điểm như các loài cây trồng rừng nguyên liệu khác.
"Keo là cây trồng có biên độ thích nghi rộng, phù hợp nhiều loại đất và khí hậu từ khô cằn, nghèo dinh dưỡng đến vùng đồi núi hoặc chua phèn. Do vậy ở các vùng đất bạc màu thì đây là loài có thể trồng tiên phong để giúp phục hồi lại hệ sinh thái rừng, tạo lập môi trường và độ phì đất làm nền tảng cho các loài cây bản địa trồng tiếp theo để tạo thành rừng cây lâu năm ổn định.
Keo có tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh, giúp tạo nguồn nguyên liệu cho các nhà máy sinh khối (dăm gỗ, viên nén) và phần nào giải quyết nguyên liệu gỗ xẻ, đóng bàn ghế nội thất hoặc ván ép. Rừng keo trung bình 5-8 năm đều có thể khai thác một lượng nguyên liệu lớn giúp gia tăng tỉ trọng xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ cho Việt Nam các năm qua.
Kỹ thuật trồng rừng, chăm sóc, thu hoạch keo không phức tạp nên phù hợp với nguồn vốn đất đai quy mô nhỏ, kỹ năng canh tác và điều kiện kinh tế hộ gia đình sản xuất nhỏ, là tiền đề giúp xóa đói giảm nghèo cho các hộ gia đình nông thôn ở Việt Nam" - ông Dũng nói.

Đồi keo bạt ngàn ở xã Trà Tân, TP Đà Nẵng và cung đường dễ bị sạt lở - Ảnh: B.D.
"Ứng xử" ra sao với cây keo?
TS Trinh khẳng định hiện nay ngay tại Đà Nẵng có rất nhiều mô hình dùng cây keo để cải tạo đất, gia tăng sinh kế, tạo hệ sinh thái rừng và thậm chí chống sạt lở rất tốt. Cây keo nếu được trồng ở nơi hợp lý, cách khai thác khoa học, đúng độ tuổi thì đảm bảo đa mục tiêu.
Từ góc nhìn của mình, TS Trinh cho rằng trong bối cảnh hiện nay ở TP Đà Nẵng thì ngoài việc cân nhắc, đánh giá lại quy hoạch không gian trồng keo ở từng xã, từng vị trí theo độ dốc thì việc rất quan trọng là phổ biến kiến thức sinh trưởng, đặc tính về cây keo để người dân nắm.
"Thay vì thu hoạch quá sớm thì bà con nên đợi thời gian dài hơn để cây sinh trưởng đủ tuổi, gia tăng bộ rễ. Khi thu hoạch keo thay vì chặt trụi, khai thác đại trà thì thu hoạch theo khoảnh nhỏ hoặc cắt xen kẽ kết hợp trồng cây con.
Như vậy rừng keo sẽ có tính "gối đầu", vừa có thu hoạch lại vừa có khả năng tái tạo rừng, không tạo ra những khoảng trống tạo rủi ro về môi trường, sạt lở. Vấn đề lớn nhất ở đây là thay đổi tư duy của từng người dân, làm sao đảm bảo sinh kế để dân có cái ăn hằng ngày trong lúc chờ đợi rừng keo vào chu kỳ khai thác" - ông Trinh nói.
TS Dũng cho rằng việc sạt lở đất dữ dội ít năm gần đây ở vùng cao TP Đà Nẵng do tác động từ các yếu tố tổng hợp như lượng mưa bất thường lớn, thời lượng mưa kéo dài trong khi độ ổn định đất kém… chứ không phải do keo hay từ cụ thể một loài cây trồng nào tác động tới.
"Rừng keo nếu trồng trên đất dốc, khai thác ngắn ngày (4-5 năm), khai thác trắng trên diện rộng… sẽ có nguy cơ gây sạt lở cao hơn so với các loài cây trồng dài ngày, ít dốc và lượng mưa tương đối thấp.
Để hạn chế sạt lở cần có quy hoạch cụ thể cho các vùng cảnh quan khác nhau theo các tiêu chí như độ dốc, loài cây, gần nguồn nước, tầng đất, tính chất và kết cấu đất.
Theo đó, các địa phương nên ưu tiên trồng cây bản địa ở các khu vực đầu nguồn nước, trên đất dốc và phát triển thêm nhiều tầng tán dây leo, bụi rậm, cây gỗ lớn, gỗ nhỏ, cây bụi, cây chịu bóng…
Chỉ trồng cây keo ở các vùng đất không quá dốc, thuận tiện vận chuyển và gần các nhà máy, không gây tác động lớn về môi trường (đầu nguồn sông suối, gần ao hồ và nhà dân…). Nên ưu tiên trồng rừng gỗ lớn trên 10 năm để tăng giá trị đầu ra về kinh tế" - TS Dũng nêu.
"Sửa sai" rừng keo đang trồng ở Đà Nẵng?
Theo TS Chu Mạnh Trinh, từ đặc tính sinh trưởng, vòng đời và khả năng bám đất của cây keo thì hiện nay diện tích phủ rừng keo ở Đà Nẵng hoàn toàn có thể "sửa sai" mà không cần chặt bỏ, thay thế triệt để.
"Đối với khu vực keo trồng ở đồi cao, chúng ta nên giữ lại, chăm sóc để keo tiếp tục phát triển, khi tới
10-15 năm diện tích này là một lớp rừng có khả năng giữ đất, các loài cây khác cũng sẽ mọc lên được.
Phía thấp hơn có thể trồng phủ cây bản địa để tạo ra lớp chắn vững chắc về lâu dài, dưới chân núi hoặc thung lũng thì bà con cứ sản xuất, canh tác bình thường.
Đây là mô hình tạo ra lớp chắn đa tầng, có thể giải quyết nhiều rủi ro, đa dạng các lợi ích. Rừng keo ở tầng trên cùng khi đủ tuổi chúng ta có thể khai thác xen kẽ kết hợp trồng gỗ lớn để đảm bảo lâu dài" - ông Trinh nói.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận