
Khu vực phố đi bộ và quảng trường Hồ Tràm đông khách trong dịp lễ - Ảnh: MỸ LƯƠNG
Câu hỏi ấy cũng từng xuất hiện rất nhiều lần từ chính thức đến bên lề tại các hội thảo bất động sản gần đây tại TP.HCM, khi hàng loạt đô thị du lịch biển mới bước vào giai đoạn phát triển quy mô lớn.
Người lao động đi 30km mỗi ngày mới đến nơi
Nhìn từ khu đô thị Hồ Tràm (xã Hồ Tràm, TP.HCM), những tổ hợp resort 5 sao và các "thành phố giải trí" quy mô hàng nghìn phòng đang liên tục xuất hiện dọc bờ biển. Tuy nhiên, trên bản đồ quy hoạch, phần lớn quỹ đất vẫn được dành cho các tổ hợp thương mại - dịch vụ.
Theo đồ án quy hoạch chung đô thị mới Hồ Tràm đến năm 2045 (phê duyệt ngày 4-12-2024), khu vực phát triển du lịch khoảng 824ha được quy hoạch dân số khoảng 3.000 người. Trong khi đó, nhu cầu lưu trú được dự báo đạt 4.600 - 5.200 phòng vào năm 2030 và 10.500 - 15.000 phòng vào năm 2045.
Nếu áp dụng hệ số lao động phổ biến của ngành khách sạn từ 0,5 - 3 lao động/phòng, Hồ Tràm sẽ cần từ khoảng 8.000 đến hơn 20.000 lao động để vận hành hệ thống du lịch trong tương lai.
Nhu cầu chỗ ở thực tế vì vậy lớn hơn rất nhiều so với quy mô dân số hiện được tính toán trong quy hoạch.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, anh H.N., nhân viên tại một resort ở Hồ Tràm, cho biết vẫn di chuyển hơn 30km mỗi ngày (từ phường Bà Rịa) để đi làm. Đi làm xa nên chi phí đi lại chắc chắn sẽ tăng lên, cùng đó là áp lực về thời gian, sự mệt mỏi và nhiều áp lực vô hình từ giao thông trên đường.
TS Nguyễn Duy Quang, chuyên gia kinh tế - chính sách công, Trường đại học Kinh tế - Tài chính TP.HCM (UEF), khẳng định việc quy hoạch chỗ ở cho lực lượng lao động trực tiếp phục vụ ngành du lịch, từ nhân viên khách sạn, nhà hàng, bảo vệ cho đến kỹ thuật viên thường bị bỏ ngỏ trong quy hoạch tổng thể.
Thực tế, nhiều lao động phải di chuyển hàng chục kilômet mỗi ngày để đến nơi làm việc. Điều này không chỉ làm tăng chi phí đi lại, mà còn khiến tỉ lệ nghỉ việc cao hơn, buộc doanh nghiệp phải liên tục tuyển dụng và đào tạo lại nhân sự.
Về lâu dài, áp lực này có thể ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng dịch vụ của chính các điểm đến nghỉ dưỡng cao cấp. Đặc biệt, nếu quỹ đất ở chính thức không đáp ứng nhu cầu, các khu nhà trọ tự phát sẽ xuất hiện ở vùng ven, kéo theo áp lực lên hạ tầng giao thông, y tế, trường học, đồng thời làm giảm chất lượng cảnh quan đô thị du lịch.

Nhìn từ các khu du lịch biển phát triển nhanh trên thế giới cho thấy nếu nhà ở cho người lao động không được tính đúng ngay từ quy hoạch, chi phí cuối cùng sẽ quya lại dưới hình thức thiếu hụt nhân lực, áp lực hạ tầng hoặc gánh nặng đầu tư công - Đồ họa: CÔNG TRIỆU
Phải được tính từ khâu quy hoạch
Ở góc độ quy hoạch, kiến trúc sư Khưu Nguyên Huy, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Dịch vụ giải pháp cảnh quan (LSS), cho rằng vấn đề cốt lõi là quy hoạch hiện nay chưa tính đầy đủ nhu cầu cư trú của lực lượng lao động sẽ vận hành toàn bộ hệ sinh thái du lịch đó.
"Một resort 5 sao không thể tự vận hành. Đằng sau mỗi phòng khách sạn là đội ngũ lễ tân, buồng phòng, kỹ thuật, an ninh, cảnh quan, logistics... và tất cả đều cần nơi để sống", kiến trúc sư Khưu Nguyên Huy nói.
Theo ông Huy, trong câu chuyện này thì Hồ Tràm là một ví dụ rất rõ. Khi quy mô lưu trú tăng lên hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn phòng, nhu cầu lao động cũng tăng tương ứng. Nếu quy hoạch chỉ tính dân số cư trú mà không tính đầy đủ dân số lao động phục vụ nền kinh tế du lịch, khoảng cách giữa nơi tạo ra việc làm và nơi người lao động có thể cư trú sẽ ngày càng lớn.
Hệ quả là khoảng cách giữa nơi ở và nơi làm việc ngày càng lớn, kéo theo áp lực giao thông, phát sinh các khu dân cư tự phát và làm gia tăng chi phí xã hội. Về bản chất, đây không chỉ là vấn đề an sinh mà còn là một phần của hạ tầng kinh tế phục vụ ngành du lịch.
Kiến trúc sư Khưu Nguyên Huy
Đô thị du lịch không chỉ là nơi du khách đến nghỉ dưỡng, mà còn phải là nơi những người tạo ra chất lượng dịch vụ có thể sinh sống và gắn bó lâu dài. Một điểm đến đẳng cấp không thể chỉ đáng đến, mà còn phải đáng sống", ông Huy nhấn mạnh
Ông Huy cho rằng kinh nghiệm quốc tế cho thấy bài toán nhà ở cho lực lượng lao động cần được xem là vấn đề an sinh và đưa vào ngay từ giai đoạn lập quy hoạch. Từ số lượng phòng khách sạn phải tính ra nhu cầu lao động, nhu cầu cư trú, rồi tiếp tục tính đến trường học, y tế, thương mại, không gian công cộng và giao thông kết nối.
Theo đó, người lao động không nhất thiết phải sống trên những khu "đất vàng" ven biển, nhưng cần được bố trí trong các khu đô thị có chất lượng sống phù hợp, nằm trong khoảng cách tiếp cận hợp lý đến nơi làm việc.
Chuyện phổ biến tại các khu du lịch biển phát triển nhanh
Tiến sĩ Nguyễn Duy Quang, chuyên gia kinh tế - chính sách công, Trường đại học Kinh tế - Tài chính TP.HCM (UEF), cho rằng đây không chỉ là vấn đề riêng của Việt Nam mà cũng phổ biến tại các quốc gia phát triển du lịch nhanh như Thái Lan, Indonesia, Tây Ban Nha, Hy Lạp... Các nước này từng trải qua bài học "resort hóa" ven biển đi kèm khủng hoảng về nhà ở lao động, kéo theo nhiều hệ lụy xã hội và kinh tế.
Một số mô hình quốc tế linh hoạt mà Việt Nam nên tham khảo như quy định bắt buộc tỉ lệ tối thiểu quỹ đất ven biển cho nhà ở xã hội, chung cư giá rẻ hoặc ký túc xá dành cho lao động ngành dịch vụ (như ở Phuket, Bali); Yêu cầu doanh nghiệp phải đầu tư khu lưu trú cho lao động khi phát triển dự án du lịch lớn (áp dụng tại một số thành phố du lịch Tây Ban Nha); Hoặc phát triển đô thị vệ tinh, kết nối bằng hạ tầng giao thông công cộng hiệu quả, giúp giảm chi phí đi lại cho người lao động (như tại Singapore, Dubai).
Điểm chung của các giải pháp này là phải đồng bộ hóa quy hoạch đất ở, đất thương mại - dịch vụ và phát triển hạ tầng xã hội ngay từ đầu, tránh để thị trường tự phát điều chỉnh dẫn đến hậu quả lâu dài cho an sinh và sức cạnh tranh của ngành du lịch.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận