
Các chuyên gia Việt Nam và châu Âu trao đổi nhiều vấn đề về nước và công nghệ nước tại hội thảo - Ảnh: TRỌNG NHÂN
Ngày 14-9, hội thảo Connecting Continents 2026 về nước, thực phẩm và các giải pháp bền vững diễn ra tại Trường đại học Hùng Vương TP.HCM, với sự phối hợp của Liên minh ngành nước Hungary (HWP) và Tổng lãnh sự quán Hungary tại TP.HCM.
Ông Gábor Lehőcz - Tổng lãnh sự Hungary tại TP.HCM - cho biết lĩnh vực nước là một hướng mà Hungary có kinh nghiệm công nghệ và có thể mở rộng hợp tác với Việt Nam. Các doanh nghiệp Hungary hiện có giải pháp từ xử lý nước uống, nước thải, nước ngầm đến loại bỏ một số chất ô nhiễm đặc thù, xử lý nước quy mô phân tán và quản lý hệ thống nước.
Theo ông, một hướng được phía Hungary quan tâm là cùng đối tác Việt Nam lựa chọn những bài toán cụ thể, đưa công nghệ vào thử nghiệm trong điều kiện thực tế rồi đánh giá khả năng chuyển giao và mở rộng. Doanh nghiệp, trường đại học, giới nghiên cứu và các đơn vị ngành nước có thể cùng tham gia quá trình này.
Cụ thể, các chương trình hợp tác gần đây giữa Liên minh ngành nước Hungary (HWP) và một số trường đại học Việt Nam cũng được xây dựng theo hướng kết hợp công nghệ với nghiên cứu và đào tạo. Sinh viên, giảng viên và nhà nghiên cứu có thể tham gia dự án thử nghiệm, trao đổi chuyên môn, thực tập và tiếp cận công nghệ của Hungary.
Việt Nam đồng thời được phía Hungary xem là một điểm kết nối để phát triển quan hệ với các thị trường khác ở Đông Nam Á nếu những mô hình hợp tác tại đây cho kết quả phù hợp.
Ông Róbert Forintos - đồng chủ tịch HWP - cho biết tổ chức này hiện kết nối hơn 40 thành viên và đối tác chiến lược trong ngành nước. Với Việt Nam, HWP nhận thấy nhu cầu rõ ở xử lý asen, xử lý nước phân tán, tái sử dụng nước thải, quản lý ngập và thoát nước, xử lý nước nhiễm mặn và bảo đảm nguồn cấp nước trước tác động của khí hậu.

Ông Róbert Forintos - đồng chủ tịch HWP - Ảnh: TRỌNG NHÂN
Một công nghệ được phía Hungary giới thiệu tại hội thảo là AsMET, vật liệu hấp phụ dùng để loại bỏ asen III và V. Vật liệu có thể được tái sinh để tiếp tục sử dụng và được tích hợp trong hệ thống PurAID.
Một thiết bị PurAID có khả năng xử lý khoảng 6.000-10.000 lít nước mỗi ngày, dùng điện lưới hoặc pin mặt trời, phù hợp với những khu vực chưa có hệ thống cấp nước tập trung hoàn chỉnh. Nhiều thiết bị có thể kết nối thành cụm và được giám sát tập trung.
HWP cho biết AsMET và PurAID đã được thử nghiệm tại Hà Nội năm 2024 với công suất khoảng 10m³/ngày trong sáu tháng. Hiệu suất loại bỏ asen đạt trên 95%, nước sau xử lý ở dưới ngưỡng 10 microgam/lít.
Trước đó, doanh nghiệp trong mạng lưới HWP cũng tham gia một nhà máy xử lý nước tại Quảng Bình có công suất 10.000m³/ngày, sử dụng nguồn nước sông.
Nhu cầu nước đô thị có thể tăng lên 22 triệu m³/ngày
GS.TS Trần Đức Hạ - Trưởng bộ môn công nghệ kỹ thuật môi trường, Trường đại học Công nghệ Đông Á - cho biết cả nước hiện có hơn 1.000 nhà máy và trạm cấp nước, tổng công suất khoảng 13,2 triệu m³/ngày. Riêng nhu cầu nước đô thị được dự báo tăng từ khoảng 12 triệu m³/ngày năm 2025 lên 20-22 triệu m³/ngày vào năm 2030.
Ông Hạ cho rằng sức ép với ngành nước không nằm riêng ở chuyện tăng công suất. Chất lượng nguồn nước đang đặt ra yêu cầu xử lý nhiều nhóm ô nhiễm khác nhau, từ asen, mangan, amoni, độ mặn, vi sinh vật và hợp chất hữu cơ đến các chất mới được quan tâm như kháng sinh, POPs và PFAS.
Nghĩa là các nhà máy sẽ cần tăng khả năng xử lý chuyên sâu và kiểm soát chất lượng nước từ nguồn đến hệ thống phân phối. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu ứng dụng SCADA, GIS, đồng hồ thông minh và cảm biến, các công nghệ như IoT, trí tuệ nhân tạo, bản sao số, viễn thám và hệ thống dự báo sớm có thể được sử dụng nhiều hơn trong thời gian tới.
Theo ông Hạ, Việt Nam cũng cần phát triển các giải pháp xử lý nước nhiễm mặn, tái sử dụng nước thải, giảm thất thoát và các mô hình cấp nước có quy mô phù hợp từng khu vực để đáp ứng nhu cầu tăng nhanh đến năm 2030.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận