
Ảnh AI minh họa
Con hẻm Âu Dương Lân (quận 8), nơi tôi sinh ra và lớn lên, nơi chỉ vừa đủ cho hai chiếc xe máy tránh nhau với những mái hiên nghiêng nghiêng, hàng loạt dây điện giăng như mạng nhện, thi thoảng điểm xuyến thêm chậu hoa giấy, hoa mười giờ nở hồng trước hiên nhà.
Một nơi tưởng chừng như nhỏ hẹp nhưng đã dung dưỡng biết bao cuộc đời từ những miền quê xa lạ, để rồi qua năm tháng, họ thôi gọi mình là người tạm trú, mà trở thành người Sài Gòn lúc nào chẳng hay.
Ông bà ngoại tôi, từ lúc chuyển nhà từ Phú Quốc đến, đã bắt đầu mở một hiệu may nhỏ trong ngõ hẻm nhỏ ấy từ năm 1975. Tiệm may tưởng chừng giản dị nhưng đã cùng ông bà nuôi lớn cả một gia đình.
Cửa tiệm may chẳng rộng, chỉ vừa đủ kê vài chiếc ghế gỗ cho khách ngồi chờ thử áo. Nhưng cánh cửa ấy lúc nào cũng mở. Người trong hẻm hoặc các vùng lân cận có thể ghé may một chiếc quần, sửa vài đường lai, rồi ngồi thêm ít phút để hỏi thăm chuyện mùa màng dưới quê, chuyện đứa con mới vào đại học hay chuyện người thân vừa từ miền Trung khăn gói vào Nam.
Tôi luôn có cảm tưởng con hẻm của nhà ngoại khi ấy tựa hồ một bản đồ thu nhỏ của đất nước. Nhà bên trái là gia đình người Quảng Nam, cuối hẻm có đôi vợ chồng gốc Bến Tre, đối diện là cô bán chè người Hà Nội, cách vài căn là chú thợ mộc quê An Giang.
Mỗi người mang theo một giọng nói, ký ức về món ăn hay tập quán riêng, nhưng rồi tất cả cùng hòa vào nhịp sống của con hẻm. Tiếng "mô, tê, răng, rứa" xen lẫn giọng Nam Bộ ngọt như nước dừa, giọng Bắc trầm ấm, tạo nên âm thanh thân thương.
Chắc vì lẽ đó mà tôi luôn nghĩ, thành phố này được kiến tạo nên từ những cuộc gặp gỡ, giữ chân nhau lại bằng tình thương yêu.
Tuổi thơ tôi lớn lên trong con hẻm ấy, nơi mỗi buổi sáng đều bắt đầu bằng những tiếng rao. Tôi vẫn nhớ hình ảnh chiếc xe hủ tiếu nghi ngút khói với nồi nước lèo trong veo thơm mùi củ cải và xương hầm.
Kế đó là gánh bánh canh với nồi nước dùng sóng sánh, sợi bánh trắng mềm, vài lát chả, ít hành lá xanh mướt.
Chiều xuống lại có tiếng leng keng của xe rau câu, bánh da lợn của mấy cô chú lớn tuổi đẩy xe đi ngang. Những khay bánh nhiều màu xếp ngay ngắn như một bảng màu tuổi thơ: xanh lá dứa, tím khoai môn, vàng đậu xanh, nâu cà phê. Chỉ cần vài đồng tiền lẻ bà ngoại dúi vào tay, tôi đã có cả một buổi chiều hạnh phúc.
Con hẻm nhỏ tựa hồ một khu chợ dân sinh thu bé. Không cần biển hiệu sang trọng, chẳng cần cửa hàng lớn, chỉ một chiếc xe đẩy với đôi quang gánh hay một chiếc bàn gỗ đơn sơ cũng đủ nuôi sống cả gia đình.
Người bán không chỉ phục vụ thức ăn nhớ khẩu vị từng khách. Đứa trẻ nào thích nhiều nước cốt dừa, ông chủ bán bánh da lợn đều nhớ. Bà lão bán hủ tiếu biết ông ngoại tôi không ăn giá. Còn bà bán rau câu luôn cắt thêm một miếng nhỏ cho bọn trẻ đang đứng ngóng bên xe.
Trong ký ức của tôi, con hẻm cũng là nơi người ta biết nương tựa vào nhau. Những năm bao cấp, cuộc sống ai cũng thiếu thốn. Nhà này có mớ rau thì chia nhà kia một nắm. Người vừa mua được ký đường lại san bớt cho hàng xóm. Có hôm ông ngoại sửa chiếc quần mà nhất quyết không lấy tiền của bác bán vé số vì biết bác còn nuôi mấy đứa con nhỏ.
Đến mùa mưa, nhà ai bị dột thì cả xóm sang phụ lợp mái. Có người đau bệnh, mọi người thay nhau nấu cháo, trông con, chở đi khám.
Covid-19 phủ lên thành phố một màu trầm lặng chưa từng có. Con hẻm vốn đông vui bỗng im ắng lạ thường. Thế nhưng, chính trong những ngày khó khăn ấy, tôi lại nhìn thấy rõ nhất vẻ đẹp của con hẻm.
Nhà có gạo chia cho nhà hết gạo. Người còn rau gửi sang người đang cách ly. Ai có thuốc góp thuốc. Ai còn sức khỏe thì nhận đi chợ giúp những người còn lại. Những túi thực phẩm lặng lẽ đặt trước cửa rồi người mang đi đã bước vội. Không ai hỏi sẽ được trả lại bao nhiêu. Cũng chẳng ai tính toán thiệt hơn. Người ta chỉ sợ hàng xóm mình bị đói.
Sau dịch, hẻm nhỏ của tôi vẫn giữ nguyên thói quen yêu thương. Chiều nào cũng có vài chiếc bát đặt trước cửa cho lũ mèo hoang. Chú chó già đi lạc ngủ dưới mái hiên nhà ai cũng được cho cơm, cho nước.
Mấy con mèo chẳng thuộc riêng nhà nào nhưng dường như lại thuộc về cả xóm. Chúng thong thả đi từ sân này sang sân khác, nằm phơi nắng trước cửa tiệm may của ngoại.
Bây giờ, nhiều căn nhà cũ đã được xây mới. Hiệu may của ngoại cũng không còn đông khách như xưa vì quần áo may sẵn đã có mặt khắp nơi. Những đứa trẻ ngày nào đã lớn, mỗi người một công việc, một thành phố, một cuộc sống riêng.
Thế nhưng, chỉ cần trở về, bước qua đầu hẻm, tôi vẫn nghe mùi cơm chiều thoảng trong gió, vẫn thấy chiếc ghế nhựa trước hiên nhà ai đó, vẫn nghe tiếng gọi nhau í ới, tiếng chổi quét sân mỗi sáng sớm. Tôi chợt hiểu, có những nơi không giữ chân con người bằng sự hào nhoáng. Chúng giữ người ở lại bằng ký ức.
Sài Gòn là thành phố của những cuộc chia xa và gặp gỡ. Mỗi ngày vẫn có hàng nghìn người từ những miền quê khác nhau tìm đến với một giấc mơ mưu sinh. Có người thành công, có người lặng lẽ quay về.
Nhưng tôi tin, nếu một ngày họ được sống trong một con hẻm như con hẻm của ngoại tôi, nơi tiếng rao hòa cùng tiếng cười, nơi bữa cơm có thể san sẻ, nơi chó mèo cũng được yêu thương như một thành viên trong xóm, thì dù mai này đi đến đâu, họ cũng sẽ mang theo một phần của thành phố trong tim mình.
Bởi sau tất cả, điều làm nên sức sống bền bỉ của Sài Gòn không chỉ là những tòa nhà cao, những con đường rộng hay ánh đèn không bao giờ tắt. Điều khiến biết bao người quyết định ở lại chính là những con hẻm nhỏ, nơi những con người xa lạ học cách gọi nhau bằng hai tiếng "hàng xóm", rồi từ lúc nào không hay, trở thành "người thân" của nhau.

Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận