
Ông Tạ Văn Đẹp - Phó giám đốc Công an TP.HCM - nêu ý kiến tại hội nghị - Ảnh: TUYẾT MAI
Không chỉ xem giám sát điện tử là biện pháp thay thế tạm giam
Tại hội nghị, Phó giám đốc Công an TP.HCM Tạ Văn Đẹp cho rằng việc bổ sung biện pháp giám sát điện tử vào Bộ luật Tố tụng hình sự là cần thiết, phù hợp thực tiễn và thông lệ quốc tế.
Tuy nhiên ông đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu quy định giám sát điện tử là một biện pháp ngăn chặn độc lập, thay vì chỉ là biện pháp thay thế tạm giam. Theo ông, trên thực tế có những người phạm tội rất nghiêm trọng, chưa đủ điều kiện tạm giam nhưng có nguy cơ bỏ trốn, nên cần một cơ chế giám sát để phòng ngừa.
Về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, ông Đẹp đồng tình với việc bổ sung các biện pháp mới, cho rằng đây là những biện pháp đã được áp dụng trên thực tế, nhất là trong công tác liên quan đến an ninh quốc gia, nhưng cần được luật hóa để bảo đảm cơ sở pháp lý và an toàn cho người trực tiếp thực hiện.
Đáng chú ý, ông Đẹp đề nghị rà soát thẩm quyền truy tố, xét xử và điều tra để bảo đảm sự đồng bộ giữa các cơ quan tố tụng. Theo ông, hiện cơ quan điều tra chỉ tổ chức hai cấp (Trung ương và cấp tỉnh), trong khi viện kiểm sát và tòa án có thêm cấp khu vực, dẫn đến một số điểm chưa thật sự thông suốt trong phối hợp, giải quyết khiếu nại, tố cáo và hoạt động tố tụng. Ông kiến nghị viện kiểm sát, tòa án phối hợp với cơ quan điều tra nghiên cứu, tính toán lại mô hình tổ chức cho phù hợp.
Trao đổi lại, đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo cho biết vấn đề giám sát điện tử đã được các cơ quan tham mưu của Bộ Công an đề xuất theo hướng là biện pháp ngăn chặn độc lập. Tuy nhiên sau quá trình trao đổi, Bộ Công an thống nhất giữ như dự thảo, coi đây là biện pháp thay thế tạm giam, tương tự cách quy định trong Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Về mô hình cơ quan điều tra, đại diện cơ quan chủ trì cho biết đã từng đặt vấn đề điều chỉnh để đồng bộ với viện kiểm sát và tòa án, đồng thời Bộ Công an cũng đã khảo sát, lấy ý kiến về việc tổ chức cơ quan điều tra theo khu vực.
Tuy nhiên quan điểm chính thức của Bộ Công an hiện nay là không thay đổi mô hình tổ chức cơ quan điều tra, vẫn chỉ gồm hai cấp là Trung ương và cấp tỉnh.

Ông Nguyễn Thanh Sang tại hội nghị - Ảnh: TUYẾT MAI
Cần quy định rõ hơn thế nào là 'có lợi hơn cho người bị buộc tội'
Ông Nguyễn Thanh Sang - Phó trưởng Ban Nội chính Thành ủy TP.HCM - cho rằng việc bổ sung các quy định mới về tố tụng là cần thiết, trong đó có quy định theo hướng có lợi hơn cho người bị buộc tội tại khoản 2 Điều 14.
Điều 14. Suy đoán vô tội
1. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do bộ luật này quy định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.
2. Khi có nghi ngờ về các tình tiết làm căn cứ buộc tội, kết tội hoặc áp dụng hậu quả pháp lý bất lợi đối với người bị buộc tội mà không thể làm sáng tỏ theo trình tự, thủ tục do bộ luật này quy định thì phải xử lý theo hướng có lợi cho họ.
Tuy nhiên ông đề nghị làm rõ cách áp dụng nguyên tắc này, để không mâu thuẫn với nguyên tắc suy đoán vô tội và xác định sự thật vụ án.
Trường hợp chưa đủ căn cứ xác định tội danh hoặc tình tiết tăng nặng thì cần quy định rõ kết luận theo hướng có lợi cho người bị buộc tội là xác định không phạm tội hay áp dụng mức độ nhẹ hơn.
Về quy định thỏa thuận, tự nguyện nhận tội và chấp nhận hình phạt, ông Sang đồng tình về chủ trương vì có thể rút ngắn thời gian, giảm nguồn lực tố tụng và nâng cao hiệu quả xử lý án.
Tuy nhiên ông lưu ý việc nhận tội phải thực chất, tránh tình trạng bị can nhận tội chỉ để được hưởng chính sách có lợi.
Đặc biệt, cần làm rõ cách áp dụng đối với vụ án có nhiều bị can, bị cáo, trong đó có người nhận tội, có người không nhận tội, cũng như trường hợp người đã nhận tội sau đó thay đổi ý kiến. Ông đề nghị liên ngành tố tụng Trung ương gồm Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao ban hành hướng dẫn chi tiết ngay khi quy định được thông qua, bảo đảm tính thống nhất và khả thi.
Đối với việc xử lý vật chứng, ông Sang đánh giá cao quy định cho phép xử lý sớm, đây là vấn đề cấp thiết từ thực tiễn TP.HCM.
Nhiều vụ án buôn lậu có vật chứng là điện thoại, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng... dễ mất giá hoặc hết hạn trong thời gian vụ án kéo dài, gây lãng phí và phát sinh thêm chi phí tiêu hủy. Do đó cần quy định rõ cơ quan chịu trách nhiệm xử lý vật chứng, tránh quy định chung chung rằng giao cho "cơ quan có thẩm quyền".
Ông đề nghị xây dựng cụ thể tiêu chí xử lý sớm để không ảnh hưởng đến việc chứng minh, giải quyết vụ án; quy định rõ trình tự, thủ tục, phương thức định giá, bán, chuyển giao, tiêu hủy vật chứng; đồng thời xác định trách nhiệm bồi thường khi xử lý sai hoặc gây thiệt hại và cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp tài sản sau khi vật chứng được xử lý.
Điều 129. Giám sát điện tử
1. Giám sát điện tử là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án có thể quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với họ.
2. Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp giám sát điện tử phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ sau:
a) Không đi khỏi phạm vi giám sát, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 điều này;
b) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;
c) Không bỏ trốn, không tiếp tục phạm tội;
d) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này;
đ) Không tháo, phá hủy thiết bị giám sát điện tử hoặc gây rối loạn hoạt động của thiết bị giám sát điện tử.
3. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 119 của bộ luật này, thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định giám sát điện tử đối với bị can, bị cáo và phải nêu rõ phạm vi giám sát. Quyết định của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 119 của bộ luật này phải được viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
4. Thời hạn giám sát điện tử không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định tại bộ luật này. Thời hạn giám sát điện tử đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.
5. Người ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử phải gửi ngay quyết định này cho bị can, bị cáo, người đại diện của họ; thông báo ngay việc áp dụng biện pháp này cho ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị can, bị cáo cư trú và giao bị can, bị cáo cho ủy ban nhân dân cấp xã đó để thi hành.
Trường hợp bị can, bị cáo vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan phải tạm thời đi khỏi phạm vi giám sát thì phải có sự đồng ý của ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú và phải có giấy phép của người đã ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Giấy phép này phải gửi cho ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
6. Bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản 2 điều này thì bị tạm giam. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị can, bị cáo cư trú phải báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử biết về việc vi phạm để xử lý theo thẩm quyền.
7. Việc hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp giám sát điện tử được thực hiện theo quy định về hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn của bộ luật này và pháp luật khác có liên quan.
8. Chính phủ quy định chi tiết khoản 5 và khoản 6 điều này.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận