Gặp 'anh Tuấn' - cựu binh Tàu không số được nhắc tên trong 'Nhật ký Đặng Thùy Trâm'

Trong cuốn "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" có nhắc đến tên của "anh Tuấn" khi đoàn bộ đội xốc ba lô rời bệnh xá của quân giải phóng ở Quảng Ngãi trong những ngày khói lửa ác liệt mùa xuân 1968. "Anh Tuấn" là ai và câu chuyện của những thủy thủ Tàu không số được bác sĩ Đặng Thùy Trâm cùng cộng sự cứu chữa, chăm sóc năm xưa thế nào?

Ký ức cựu binh tàu không số trong nhật ký Đặng Thùy  Trâm - Ảnh 1.

Ông Trần Ngọc Tuấn (bìa trái) vinh dự được gặp Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong một dịp kỷ niệm Đường Hồ Chí Minh trên biển - Ảnh: HOÀNG DƯƠNG chụp lại

Ngày mai là kỷ niệm 65 năm ngày mở Đường Hồ Chí Minh trên biển (23-10-1961 - 23-10-2026), con đường huyền thoại của dân tộc ta, từng làm cho các lực lượng quân đội Mỹ kinh ngạc. Trong không khí kỷ niệm ấy, chúng tôi may mắn được gặp một trong những sĩ quan chính trị trên những chuyến tàu không số huyền thoại, hiện đang sống tại phố biển Nha Trang (Khánh Hòa).

"Anh Tuấn" trong "Nhật ký Đặng Thùy Trâm"

Ký ức cựu binh tàu không số trong nhật ký Đặng Thùy  Trâm - Ảnh 2.

Ông Trần Ngọc Tuấn với cuốn hồi ký về những ngày chiến đấu trên các con tàu không số huyền thoại - Ảnh: HOÀNG DƯƠNG

Trong cuốn "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" ghi ngày 10-4-1968, có đoạn: "Vậy là chiều nay các anh lên đường để lại cho mọi người một nỗi nhớ mênh mông giữa khu rừng vắng vẻ. Các anh đi rồi nhưng tất cả nơi đây còn ghi lại bóng dáng các anh: những con đường đi, những chiếc ghế ngồi chơi xinh đẹp, những câu thơ thắm thiết yêu thương. Nghe anh Tuấn ra lệnh: "Tất cả ba lô lên đường!". Những chiếc ba lô vụng về may bằng những tấm bao Mỹ đã gọn gàng trên vai, mọi người còn nấn ná đứng lại trước mình bắt tay chào mình một lần cuối. Bỗng dưng một chuỗi nhớ thương kỳ lạ đối với miền Bắc trào lên trong mình…".

"Anh Tuấn" ấy chính là ông Trần Ngọc Tuấn, năm nay 93 tuổi, sống tại phường Bắc Nha Trang (Khánh Hòa). Ông nguyên là Chính trị viên kiêm Bí thư Chi bộ trên 3 chiếc tàu không số huyền thoại chở vũ khí từ miền Bắc chi viện cho miền Nam đánh Mỹ và tay sai năm xưa.

Chia sẻ với chúng tôi, ông Tuấn nhớ lại đó là thời gian ông là Chính trị viên Tàu 43, một trong những con tàu không số anh hùng.

Người sĩ quan tàu không số năm xưa bồi hồi chia sẻ: Trong cuốn lịch sử của Lữ đoàn 125 Hải quân ghi rõ: "Cuối năm 1967, Bộ Chính trị đã họp và nhận định, nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của chúng ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi nhất định…". Đồng thời ấn định thời gian phù hợp nhất, bất ngờ nhất là vào đêm giao thừa Tết Mậu Thân 1968.

Trước tình hình đó, để tiếp vũ khí cho quân và dân ta ở miền Nam nổi dậy, những con tàu không số thuộc Lữ đoàn 125 Hải quân Việt Nam được lệnh lên đường.

Ký ức cựu binh tàu không số trong nhật ký Đặng Thùy  Trâm - Ảnh 3.

Lực lượng trên Tàu không số 43 chở vũ khí từ miền Bắc chi viện cho chiến trường ở Quảng Ngãi trong năm 1968 - Ảnh tư liệu

Ông Tuấn kể: 4 con tàu không số xuất phát ở 4 địa điểm khác nhau trên đất Bắc, cùng trong đêm và tỏa ra 4 hướng để phân tán sự theo dõi của địch trên biển. Cụ thể, theo kế hoạch, Tàu 165 vào bến Vàm Lũng (Cà Mau), Tàu 235 vào Hòn Hèo (Khánh Hòa), Tàu 43 vào Đức Phổ (Quảng Ngãi), còn Tàu 56 vào Lộ Diêu (Bình Định).

Tàu 43 do ông Trần Ngọc Tuấn làm Chính trị viên, kiêm Bí thư Chi bộ, ông Nguyễn Đắc Thắng làm Thuyền trưởng, vừa hoàn thành chuyến đi biển thứ 8 trở về, liền được giao nhiệm vụ tiếp tục vượt biển chở 37 tấn vũ khí vào Nam.

"Tàu được biên chế 17 thủy thủ, trong đó có bổ sung 2 thuyền phó trẻ khỏe là Sáu Đức và Thơm cùng sĩ quan hàng hải đầy kinh nghiệm là Xuân Ruệ…" - ông Tuấn nhớ lại và cho biết đó là chuyến đi được xác định vô cùng khó khăn và ác liệt, vì bến đến ở ngay vùng phòng thủ ngăn chặn của địch: Hướng Bắc gần căn cứ Chu Lai, hướng Nam gần căn cứ Sa Huỳnh và cảng Quy Nhơn, hướng Tây là quốc lộ 1 mà quân Mỹ - ngụy đồn trú dày đặc… Nguy hiểm nhất là hướng Đông, nơi "đóng đô" Hạm đội 7 của Hải quân Mỹ.

Ký ức cựu binh tàu không số trong nhật ký Đặng Thùy  Trâm - Ảnh 4.

Trang viết của bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm trong nhật ký về đoàn thủy thủ Tàu không số 43 rời bệnh xá quân giải phóng ở Đức Phổ - Ảnh: HOÀNG DƯƠNG chụp lại

Tuy nhiên, con tàu mang bí số 43 vẫn lặng lẽ vượt qua nhiều phòng tuyến phong tỏa của địch trên biển. Đến chiều 29-2-1968, tàu chuyển hướng vào bến. Khi tàu còn cách bờ chưa đầy 20 hải lý, bỗng hàng loạt pháo địch bắn lên sáng rực cả vùng biển rộng lớn. Phía sau là 4 tàu địch đang hùng hổ đuổi theo vây chặn.

Tàu địch tấp cập nã pháo vào tàu ta, thuyền trưởng chỉ huy tàu luồn lách tránh đạn, còn chính trị viên báo về Sở Chỉ huy với nội dung: "Tàu 43 gặp địch vây đánh. Quyết đánh trả, hủy tàu".

17 thủy thủ trên con tàu không nao núng, quả cảm đánh trả lại địch. Họ giữ chắc tay súng, đợi mục tiêu sẵn sàng khạc đạn. 1 chiếc tàu địch trúng đạn, bốc cháy khiến những tàu còn lại hoảng hốt chạy ra xa…

"Tàu 43 vẫn tăng tốc lao về hướng bờ. Địch lại đuổi theo và mở đợt 2 tấn công tàu ta. Anh Ruệ lái tàu bị trúng đạn, thân người gục xuống cabin tàu, nhưng vẫn gì chặt tay trên vòng lái. Liền sau đó, thủy thủ Công Hòa lái thay, rồi anh Ruệ trút hơi thở cuối cùng… Nhưng các thủy thủ trên tàu vẫn kiên cường nã đạn về phía địch, vừa lao con tàu về hướng bờ… Đến 4h30 cùng ngày, Tàu 43 đã vào gần bờ" - ông Tuấn nhớ lại.

Trước sự bủa vây ngày càng chặt, chỉ huy tàu đã bố trí đưa thương binh, 3 liệt sĩ vào bờ… rồi tiến hành hủy tàu theo kế hoạch.

"Điều đau xót nhất là trong khi dìu 3 thủy thủ hy sinh vào bờ, những cơn sóng lớn đã "cướp" mất xác anh Rải (còn gọi là Kiểm), anh em đã cố gắng mò tìm nhưng vô vọng" - gương mặt ông Tuấn thoảng nét buồn bã khi nhớ lại.

Sau lên đất liền, 14 thủy thủ Tàu 43 được du kích địa phương dẫn đường, nhưng phải đến cả tuần sau mới về được bệnh xá của quân giải phóng. Tại đây, các thủy thủ được bác sĩ Đặng Thùy Trâm và các cộng sự chăm sóc hơn 1 tháng trời. Sau đó, ông cùng đồng đội rời bệnh xá, hành quân trở lại miền Bắc.

"Hai chìm, bảy nổi"

Nhớ về những ngày ác liệt đó, ông Tuấn - bằng chất giọng Quảng Nam đặc sệt - đã dí dỏm "liệt kê" công việc của mình trong những lần đi tàu không số vượt biển vào miền Nam bằng một câu chế: "Dân gian nói "ba chìm, bảy nổi", chứ tôi thì chỉ "hai chìm, bảy nổi" thôi".

Ông Tuấn kể, từ năm 1962 - 1968, ông tham gia 9 chuyến vận chuyển vũ khí vào miền Nam trên những chiếc tàu không số. Trong đó có hai chuyến chìm (hai chìm) còn bảy chuyến thì an toàn (bảy nổi).

Cả hai chuyến chìm là do ông cùng đồng đội trực tiếp cho nổ mìn để xóa dấu vết sau khi bị địch phát hiện vây bắt, đều diễn ra tại Quảng Ngãi. Một chiếc tại gần cửa biển Sa Kỳ thuộc xã Bình Châu huyện Bình Sơn, còn một chiếc tại thôn Quy Thiện xã Phổ Hiệp, huyện Đức Phổ.

Chuyến đi của Tàu 43 vào Đức Phổ cũng là chuyến để lại cho ông nhiều ký ức hào hùng nhất khi không để con tàu lọt vào tay địch, hủy thành công tàu, 14 thuyền viên còn sống, đồng thời bắn rơi máy bay, diệt tàu địch… Hiện Bến tàu không số Quy Thiện đã được công nhận là Di tích lịch sử cấp tỉnh.

Ký ức cựu binh tàu không số trong nhật ký Đặng Thùy  Trâm  - Ảnh 3.Cận cảnh xác tàu không số nằm dưới đáy biển Vũng Rô hơn 60 năm

Sâu dưới đáy biển vịnh Vũng Rô, xã Hòa Xuân, Đắk Lắk (trước là Phú Yên), xác một con tàu không số vẫn nằm im hơn 60 năm, lưu giữ dấu tích của những chuyến vận chuyển vũ khí chi viện cho miền Nam, góp phần làm nên con đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại.

Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
google Nguồn ưu tiên trên Google Ưu tiên Tuổi Trẻ trên Google Search. Xem hướng dẫn.
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất